Kết quả 1 đến 20 của 38

Chủ đề: Khi nào thì nổi hạch là triệu chứng nguy hiểm?

Hybrid View

  1. #1
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Nổi hạch - Sưng hạch (bạch huyết)

    Viết bởi Administrator Thứ ba, 22 Tháng 12 2009

    Hạch bạch huyết (hạch lympho) là một thành phần quan trọng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể giúp cơ thể chiến đấu chống lại nhiễm trùng.
    Chúng là những cấu trúc nhỏ, mềm, hình tròn hoặc hình bầu dục nằm ở khắp nơi trong cơ thể và được nối kết với nhau theo dạng chuỗi (các chuỗi bạch huyết) bởi cách kênh thông nối tương tự như các mạch máu. Mỗi hạch bạch huyết được bao bọc bởi một vỏ bao có thành phần cấu tạo là các mô liên kết. Bên trong vỏ bao, các hạch bạch huyết chứa một số loại tế bào miễn dịch. Những tế bào này chủ yếu là các tế bào lympho (tế bào bạch huyết), chúng sản xuất ra các protein có khả năng bắt giữ và chống lại virus cùng với các vi sinh vật khác, và các đại thực bào có khả năng tiêu diệt và loại bỏ những thành phần bị các tế bào lympho bắt giữ.

    Phân bố của hạch bạch huyết trên cơ thể
    Các hạch bạch huyết nằm khắp nơi trên cơ thể. Một số nằm sát ngay bên dưới da, một số khác nằm sâu bên trong cơ thể. Hầu hết các hạch bạch huyết dưới da thường không nhìn thấy được hoặc không sờ thấy được trừ phi chúng bị sưng và phì đại do một số nguyên nhân.
    Các hạch bạch huyết liên kết với nhau bởi các mạch bạch huyết giới hạn lỏng lẻo. Các hạch bạch huyết thường tập hợp lại thành một nhóm ở nhiều khu vực khác nhau trong cơ thể, là những nơi chúng chịu trách nhiệm lọc máu và thực hiện chức năng miễn dịch của mình. Các dịch của các mạch bạch huyết cuối cùng sẽ đổ về hệ thống tĩnh mạch của cơ thể.


    Những nguyên nhân gây nổi hạch (sưng hạch) bạch huyết
    Có nhiều nguyên nhân gây nổi hạch (sưng hạch) bạch huyết. Thông thường, các hạch bạch huyết sẽ sưng lên khi chúng đang hoạt động do nhiễm trùng, viêm, hoặc do ung thư.

    Nhiễm trùng
    Nhiễm trùng là nguyên nhân gây nổi hạch thường gặp nhất. Những tác nhân nhiễm trùng gây nổi hạch bao gồm: virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, và nấm.

    Virus

    • Nhiễm trùng tăng bạch cầu đơn nhân
    • Thủy đậu
    • Sởi
    • HIV
    • Herpes
    • Cúm
    • Adenovius
    • và nhiều loại virus khác

    Vi khuẩn

    • Streptococcus
    • Staphylococcus
    • Bệnh mèo cào
    • Giang mai
    • Lao
    • Chlamydia
    • Những bệnh lây truyền qua đường tình dục

    Ký sinh trùng

    • Toxoplasmosis
    • Leishmaniasis

    Nấm

    • Coccidiomycosis
    • Histoplasmosis


    Viêm
    Những nguyên nhân viêm và miễn dịch gây nổi hạch bao gồm các bệnh như: viêm khớp dạng thấp vàlupus cũng như tình trạng nhạy cảm đối với một số loại thuốc.

    Ung thư
    Có nhiều loại ung thư có thể gây nổi hạch. Đó có thể là những loại ung thư bắt nguồn từ hạch hoặc từ các tế bào máu, chẳng hạn như ung thư máu hoặc bệnh bạch cầu (lymphoma). Chúng cũng có thể là các loại ung thư lây lan từ những bộ phận khác của cơ thể (di căn). Chẳng hạn như ung thư vú có thể lan sang các hạch bạch huyết gần nhất ở nách (bên dưới cánh tay), hoặc ung thư phổi có thể lan sang các hạch bạch huyết xung quanh xương đòn.

    Những nguyên nhân gây nổi hạch khác
    Có nhiều nguyên nhân khác cũng gây nổi hạch ít gặp hơn, chẳng hạn như các bệnh di truyền về dự trữ lipid, phản ứng đào thải mảnh ghép, sarcoidosis (u hạch bạch huyết lành tính), và nhiều bệnh khác nữa.
    Ngoài ra cũng cần phải lưu ý rằng không phải tất cả các trường hợp nổi hạch đều là dấu hiệu của một bệnh nào đó. Đôi khi nó có thể là bình thường. Chẳng hạn như các hạch bạch huyết nhỏ (nhỏ hơn 1cm), phẳng, nằm phía dưới hàm (hạch dưới hàm) ở những trẻ em khỏe mạnh và những người trẻ tuổi, hoặc những hạch nhỏ (có thể lên đến 2cm) ở háng (hạch bẹn) ở những người trẻ tuổi có thể được xem là bình thường.
    Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân chính xác gây nổi hạch có thể không xác định được mặc dù đã làm tất cả các biện pháp thăm khám và xét nghiệm cần thiết.

    Những triệu chứng của nổi hạch bạch huyết
    Các triệu chứng của tình trạng nổi hạch bạch huyết rất khác nhau. Có người có thể hoàn toàn không có triệu chứng nào và chỉ được các bác sĩ phát hiện ra mình bị nổi hạch khi đi khám sức khỏe định kỳ.
    Đôi khi các hạch bạch huyết có thể căng, đau, và bị biến dạng. Quan trọng hơn, những triệu chứng khác liên quan đến những bệnh nền gây nổi hạch có thể đi kèm với tình trạng nổi hạch và có thể có ý nghĩa về mặt lâm sàng hơn là tình trạng nổi hạch đơn độc. Chẳng hạn như những triệu chứng như sốt, chảy mồ hôi đêm, sụt cân, hoặc những dấu hiệu của tình trạng nhiễm trùng khu trú (đau răng, viêm họng) có thể cung cấp những đầu mối quan trọng để xác định chính xác nguyên nhân gây nổi hạch.

    Chẩn đoán nổi hạch bạch huyết như thế nào
    Những hạch bạch huyết nằm sát bề mặt da thường được các bác sĩ phát hiện ra khi khám và sờ thấy những vùng xuất hiện các chùm hạch, chẳng hạn như nổi hạch nách, nổi hạch ở hai bên cổ (hạch cổ), hoặc nổi hạch ở háng. Những hạch như vậy thường có thể nhìn thấy và sờ thấy được một cách dễ dàng.
    Những hạch bạch huyết nằm sâu bên trong cơ thể có thể phát hiện nhờ những khảo sát về hình ảnh học, chẳng hạn như CT scan.
    Amydal nằm ở thành sau họng cũng là một dạng hạch bạch huyết và chúng là hạch bạch huyết dễ thấy nhất của cơ thể.
    Chẩn đoán được nguyên nhân gây nổi hạch đôi khi có thể là một thách thức. Thành tố quan trọng nhất trong quá trình chẩn đoán là đánh giá hạch qua việc khai thác bệnh sử và thăm khám một cách có hệ thống. Các bác sĩ sẽ hỏi về những triệu chứng như: đau họng, sốt và run rẩy, mệt mỏi, sụt cân, những loại thuốc mà bạn đang dùng, tình trạng hoạt động tình dục, tình trạng tiêm phòng vaccin, những nơi mà bạn đã đi qua trong thời gian gần đây, những loại ung thư mà bạn hoặc những người thân trong gia đình bạn có thể bị trước đây, v.v...
    Một nhóm hạch bạch huyết xuất hiện ở những vùng nhất định trong cơ thể là do phản ứng lại với những rối loạn ở vùng đó. Nếu như có một nhiễm trùng đặc hiệu nào đó ở vùng bị nổi hạch thì rất có khả năng nó chính là nguyên nhân gây nổi hạch. Chẳng hạn như nhiễm trùng ở chân hoặc những bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể gây nổi hạch ở háng.
    Các bác sĩ thường khám hạch bằng cách sờ và xác định tính chất của chúng. Chúng có thể có những tính chất sau:


    • Lớn hay nhỏ
    • Căng hay không căng
    • Cố định hay di động
    • Cứng hay mềm, hoặc
    • Rắn chắc hay mềm dẻo

    Những tính chất trên có thể hữu ích trong việc xác định nguyên nhân gây nổi hạch. Chẳng hạn như các hạch bạch huyết cứng, không căng và không di động được có thể là đặc trưng của tình trạng ung thư lan đến hạch. Còn một hạch mềm, căng, di động được thường là một biểu hiện của tình trạng nhiễm trùng.
    Nếu nghi ngờ hạch bạch huyết có liên quan đến ung thư thì các bác sĩ sẽ thực hiện sinh thiết hạch để xác định loại ung thư. Chẳng hạn như các hạch bạch huyết xung quanh xương đòn (hạch thượng đòn) có thể là do ung thư phổi ở một người có thể có những bằng chứng khác trên lâm sàng hướng đến ung thư phổi.

    Nổi hạch bạch huyết được điều trị như thế nào?
    Không có cách điều trị đặc hiệu cho tình trạng nổi hạch. Thông thường nếu giải quyết được nguyên nhân gây nổi hạch thì hạch sẽ tự động trở lại kích thước bình thường.
    Chẳng hạn như điều trị tình trạng nhiễm trùng gây nổi hạch có thể làm cho hạch bạch huyết bị phù nề nhỏ lại. Nếu tình trạng nổi hạch là do ung thư hạch (lymphoma) thì hạch sẽ thu nhỏ lại sau khi bệnh lymphoma được điều trị.

    Khi nào cần đi khám bệnh?
    Nếu tình trạng nổi hạch đi kèm với sốt, vã mồ hôi đêm, hoặc sụt cân, và bệnh nhân không có những dấu hiệu nhiễm trùng có thể quan sát thấy được thì bệnh nhân nên được đưa đến phòng mạch của bác sĩ để khám.
    Ngoài ra, những bệnh nhân bị nhiễm trùng và được điều trị thích đáng rồi nhưng vẫn còn nổi hạch cũng nên đi đến gặp bác sĩ.
    Nếu một bệnh nhân đang bị ung thư, hoặc đã được điều trị một loại ung thư nào đó trong quá khứ và phát hiện ra mình bị nổi hạch ở khu vực ung thư thì người bệnh nhân đó cũng nên đến gặp để báo với bác sĩ.

    Những hạch nào thường hay bị nổi?
    Có nhiều hạch ở những vùng khác nhau của cơ thể bị sưng lên do nhiều lý do khác nhau. Có nhiều người thường bị nổi hạch ở cổ, phía sau tai, dưới hàm, phía trên xương đòn, nách, hoặc xung quanh bẹn.
    Thường gặp nhất là những hạch ở hai bên cổ hoặc phía dưới hàm. Chúng có thể là một biểu hiện của tình trạng nhiễm trùng xung quanh khu vực đó, chẳng hạn như nhiễm trùng hoặc áp xe răng, nhiễm trùng họng, nhiễm siêu vi, hoặc nhiễm trùng đường hô hấp trên. Hầu hết các nguyên nhân gây nổi hạch đều lành tính; tuy nhiên đôi lúc tình trạng nổi hạch có thể là dấu hiệu của một loại ung thư nào đó ở vùng đầu và cổ.
    Cách hạch bạch huyết nổi ở phía sau tai có thể là do nhiễm trùng xung quanh sọ hoặc ở kết mạc mắt.
    Các hạch bạch huyết ở nách có tính chất quan trọng về mặt giải phẫu học với ung thư vú. Chúng thường được kiểm tra ở những bệnh nhân được khám vì nghi ngờ ung thư vú. Chúng cũng đóng một vai trò quan trong trong việc phân độ (xác định mức độ lan tràn) và tiên lượng (tiên đoán kết quả) ung thư vú trong khi cắt bỏ mô ung thư ra khỏi vú. Những hạch bạch huyết này cũng có thể trở nên phản ứng và phì đại do chấn thương hoặc do nhiễm trùng ở cánh tay ở cùng bên.
    Nổi hạch ở trên xương đòn (hạch thượng đòn) luôn được xem là bất thường. Chúng thường là dấu hiệu của ung thư hoặc nhiễm trùng ở những khu vực kế cận, chẳng hạn như nhiễm trùng phổi, ung thư phổi, lymphoma ở ngực, hoặc ung thư vú. Đôi khi vị trí ung thư còn có thể ở xa hơn, chẳng hạn như ung thư sinh dục, hoặc ung thư đại tràng. Một số nguyên nhân lành tính gây nổi hạch thượng đòn bao gồm lao và sarcoidosis.
    Như đã nói ở trên, nổi hạch ở bẹn có thể là bình thường ở những người trẻ tuổi. Tuy nhiên, chúng có thể là kết quả của một số bệnh lây truyền qua đường tình dục, ung thư sinh dục, hoặc nhiễm trùng ở chi dưới (chân) ở cùng bên.

    Những biến chứng của tình trạng nổi (sưng) hạch bạch huyết
    Có thể có nhiều biến chứng liên quan đến tình trạng sưng hạch bạch huyết. Nếu hạch bạch huyết xuất hiện do nhiễm trùng không được điều trị thì có thể hình thành ổ áp xe (một hốc có chứa mủ), và cần phải rạch dẫn lưu và điều trị kháng sinh. Vùng da phía trên hạch cũng có thể bị nhiễm trùng..
    Trong một số trường hợp, các hạch bạch huyết có thể trở nên rất lớn và đè ép các cấu trúc xung quanh. Đây có thể là một tình trạng nghiêm trọng có thể cần phải can thiệp hoặc phẫu thuật. Chẳng hạn như các hạch nách có thể đè ép các mạch máu và dây thần kinh cung cấp cho cánh tay. Các hạch bạch huyết bên trong ổ bụng nếu bị sưng to có thể đè ép ruột và gây tắc ruột.

    Tóm tắt


    • Hạch bạch huyết là một phần quan trọng của hệ miễn dịch.
    • Hạch bạch huyết nằm khắp nơi trong cơ thể nhưng chỉ có thể nhìn thấy được hoặc sờ thấy được khi chúng phì đại hoặc sưng to lên.
    • Các hạch bạch huyết mang tính khu vực, và mỗi nhóm hạch tương ứng với một khu vực nhất định của cơ thể và phản ánh sự bất thường ở khu vực đó.
    • Thông thường, nhiễm trùng là nguyên nhân gây nổi hạch nhiều nhất. Những nguyên nhân thường gặp khác bao gồm viêm và ung thư.
    • Không phải tất cả các hạch bị phì đại đều là tình trạng bất thường.


    Theo Medicinenet - Y học NET dịch


    ads

  2. #2
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    CHẨN ĐOÁN HẠCH TO

    I. ĐẠI CƯƠNG.

    Thường mọi bệnh lý của hệ thống tổ chức tân đều biểu hiện trên lầm sàng bằng những hạch to. Do đó chẩn đoán hạch to cho ta một ý niệm rõ ràng về những bệnh của hệ thống này.
    Chẩn đoán nguyên nhân hạch to thường dễ, nếu chỉ là một triệu chứng nằm trong một bệnh cảnh có nhiều hội chứng cấp tính hơn. Nhưng nếu hạch to là một triệu chứng duy nhất hoặc nổi bật thì chẩn đoán thường khó khăn. Lúc đó cần phải tiến hành xét nghiệm chọc hạch hoặc sinh thiết hạch để có chẩn đoán quyết định.
    II. CÁCH KHÁM MỘT NGỪƠI CÓ HẠCH TO.

    1. Khám hạch.

    1.1. Vị trí hạch:

    Thường hạch to ở dưới hàm, hai bên cổ phía sau cơ ức đòn chũm, hố thượng đòn, nách, bẹn, khoeo chân, khuỷu tay. Hạch nửa người trên thường là hạch lao, hạch ung thư hay hạch trong bệnh Hodgkin: hạch bẹn thường nghĩ đến bệnh hoa liễu, ung thư hạch…
    Cần xem hạch ở một bên hoặc hai bên, và nếu có cả hai bên, cần xem có đều khau không?.
    1.2. Thể tích và mật độ:

    Cần xem hạch to hay nhỏ. Hạch lao, hạch viêm thường, hạch di căn ung thư, hạch trong các bệnh bạch huyết thường nhỏ. Ung thư hạch hoặc hạch trong bệnh Hodgkin thường to hơn.
    Chú ý xem mật độ hạch rắn hay mềm. Hạch lao trong giai đoạn đầu hoặc giai đoạn bã đậu hoá, hạch viêm thường mềm. Hạch ung thư, Hoodgkin thường rắn.hạch trong các bệnh bạch cầu, mật độ thường chắc.
    1.3. Hình thể:

    Hạch tròn đều nhẵn, bờ rõ rệt gặp trong bệnh bạch cầu. Hạch lao ung thư thường dính vào nhau làm thành từng đám hoặc dính vào mô xung quanh nên lổn nhổn không đều, khó giới hạn rõ rệt.
    1.4. Độ di động.

    Trong bệnh bạch cầu hoặc hạch di căn ung thư, thường hạch nọ tách rời hạch kia nên di động dễ dàng. Trái với hạch ung thư, hạch lao di động dễ dàng trong giai đoạn đầu nhưng sau thường dính vào da hoặc mô xung quanh nhưng cũng khó di động.
    1.5. Đau, nóng:

    Hạch viêm cấp thường đau, nóng, đỏ. Còn hạch ung thư lao, hạch trong bệnh bạch cầu thường không đau. Tuy nhiên, khi hạch phát triển, chèn ép vào các dây thần kinh bên cạnh, gây đau một vùng đó. Hạch bội nhiễm, hạch có thể đỏ lên và đau.
    1.6. Tiến triển:

    Hạch của bệnh Hodgkin xuất hiện từng đợt. Hạch lao tiến triển chậm hơn hạch ung thư. Cần chú ý đến các vết sẹo trên các hạch to. Hạch có lỗ rò hoặc sẹo căn rúm làm ta nghĩ nhiều đến hạch lao, nhất là nếu lại mọc ở cổ (tràng nhạc).
    Trên đây là những yêu cầu kiểm tra khi có hạch to ở ngoại biên, tay ta có thể sờ nắn được. Trường hợp hạch to trong nội tạng như hạch trung thất, hạch mạc treo… lúc đó phương pháp lâm sàng không thể phát hiện hoặc rất khó phát hiện (hạch mạc treo). Cần phải dùng Xquang soi hoặc chụp cắt lớp. Có khi phải soi ổ bụng hoặc nếu cần, mở bụng thăm dò mới phát hiện ra được hạch to.
    2. Chẩn đoán phân biệt.

    - Các u nang, u mỡ dưới da: thường mềm hơn và nhiều khi không ở trong những vùng của hạch bạch huýêt.
    - U nang bươu giáp trạng đơn thuần hoặc nhân giáp trạng: di động theo nhịp nuốt, mật độ thường mềm hơn, nhất là u nang.
    - Thoát vị bẹn: có thể đẩy lên được.
    - U trung thất: rất khó phân biệt định, cần chụp cắt lớp.
    - U mạc treo: rất khó phân biệt với hạch. Soi ổ bụng, có khi phải mổ thăm dò ở ổ bụng.
    III. KHÁM XÉT CÁC BỘ PHẬN KHÁC

    Sau khi đã xác định hạch to, cần chú ý kiểm tra gan lách, phát hiện các bệnh về máu.
    1. Chẩn đoán nguyên nhân hạch to.

    1.1. Hạch viêm cấp tính.

    1.1.1. Viêm nhiễm gây sưng tấy một vùng.

    Thường ở những vùng có hạch bạch huyết chi phối, khi bị viêm nhiễm hạch này sẽ sưng lên. Thí dụ viêm họng gây hạch to ở dưới hàm. Nhọt dưới đùi có nhọt ở bẹn, bắp chuối: zona ở ngực có hạch ở nách… hạch ở đây cũng có tính chất của một viêm nhiễm: sưng, nóng, đỏ, đau. Mật độ thường chắc. Số lượng ít, chỉ một hai hạch, di động được và không dính vào nhau. Hạch có thể tiến triển làm mủ gây loét, nhất là khi bị bẩn, ở những chỗ bị cọ xát nhiều như nách (ổ gà).
    1.1.2. Một số bệnh số phát ban thành dịch:

    Như bệnh đăng gơ, bệnh rubêôn. Hạch nổi ban đỏ khắp người, đau các đầu xương, sốt. Bệnh gây thành dịch, lành tính. Khi khỏi bệnh hạch cũng lặn, nhưng thường sau một thời gian lâu mới hết.
    1.1.3. Bệnh nhiễm khuẩn có tăng bạch cầu đơn nhân:

    Hạch nổi lên ở nhiều nơi, không đau, dễ di động mật độ chắc. Người bệnh có sốt cao, cũng phát ban khắp người như rubêôn, nhưng khi thử máu thấy bạch cầu đơn nhân tăng nhiều bệnh lành tính.
    1.2. Bệnh viêm mạn tính.

    1.2.1. Hạch do cơ địa:

    Thường thấy ở một số người gầy yếu, sức khoẻ toàn thân kém. Hạch thường ở bẹn, nhỏ, di động dễ, không đau. Mật độ chắc. Hạch sẽ hết khi sức khoẻ toàn thân khá hơn, không cần điều trị gì.
    1.2.2. Hạch trong bệnh hoa liễu.

    - Hạch trong bệnh giang mai: trong giai đoạn đầu của bệnh (mới mắc) hạch nổi to gần chỗ xâm nhập của xoắn trùng (bẹn). Thường có 4 -5 hạch nhỏ. Hơi rắn, di động dễ, không đau. Sang giai đoạn II, hạch có thể gặp ở tất cả mọi nơi trong cơ thể và to hơn.
    - Bệnh Nicolas Favre: Hạch khá to ở bẹn (quả soài). Thường nhiều hạch đính vào nhau thành một đám, không dính vào tổ chức xung quanh. Dễ làm mủ từng điểm nhỏ trên mặt hạch và khi rò có nhiều lỗ trông như một cái hương sen.
    1.2.3. Hạch lao:

    Lúc đầu, thường hạch ở hai bên cổ, trước và sau cơ ức đòn chũm, sau mới lên hạch sau gáy, hố thượng đòn, ít khi gặp hạch to ở nách và bẹn. Hạch nổi thành từng chuỗi (tràng nhạc). Cũng có khi chỉ có một hạch to nổi lên một bên cổ.
    Xuất hiện và tiến triển từ từ. Lúc đầu thường chắc nhẵn, dễ di động không đau. Về sau có nhiều hạch dính vào nhau hoặc dính vào da phía trên nên di động khó khăn hơn. Lúc này hạch đã có thể bã đậu hoá nên mềm và to nhanh hơn. Hạch bã đậu có thể thủng ra ngoài da gây một lỗ rò rất lâu lành làm miệng lỗ rò nham nhở, màu hơi tím, luôn chảy ra một thứ nước vàng xanh, lổn nhổn trắng như bã đậu. Khi lỗ rò gắn miệng, để lại một vết sẹo nhăn dúm rất xấu.
    Cũng có thể hạch không bã đậu hoá mà vôi hoá nên bé lại và mật độ rắn.
    Trên cùng một đám hạch lao, ta có thấy những hạch có mật độ khác nhau, tuỳ theo thời gian xuất hiện của mỗi hạch. Yếu tố này quan trọng cho chẩn đoán bệnh lao.
    Lao thường gặp ở trẻ con và người trẻ tuổi. Cẩn kiểm tra kỹ hệ thống hạch sâu ở phổi và màng bụng.
    1.3. Hạch ung thư:

    1.3.1. Ung thư hạch:

    Thường hạch to, mật độ rắn, ít di động vì dính vào tổ chức ở sâu. Có thể là những hạch riêng lẻ nhưng cũng có khi dính vào nhau thành từng đám. Có thễ có những triệu chứng đi kèm theo như phù, đau chung quanh chổ hạch to do thần kinh, mạch máu bị chèn ép.
    Chẩn đoán quyết định bằng sinh thiết hạch thấy tế bào ung thư.
    1.3.2. Ung thư di căn.

    Thường ung thư vú có di căn hạch nách, ung thư tử cung, dương vật di căn hạch bẹn, ung thư dạ dày di căn hạch cổ… chẩn đoán bằng tìm thấy ổ ung thư tiên phát hoặc sinh thiết hạch thấy có tế bào ung thư di căn.
    1.4. Hạch to trong các bệnh về máu.

    1.4.1. Bệnh bạch cầu.

    - Bệnh bạch cầu kinh thể lymphô. Hạch to nhiều nơi, cả hai bên. Thể tích thay đổi, có thể to bằng quả quít. Bề mặt đều, nhẵn, mật độ chắc, độc lập đối với nhau và di động dễ dàng. Giới hạn hạch rõ rệt vì không dính vào nhau và các mô xung quanh. Chẩn đoán bằng xét nghiệm máu và nếu cần, chọc dò tuỷ. Không cần sinh thiết hạch.
    - Bạch cầu cấp: hạch ít và nhỏ hơn, thường nổi nhiều ở dưới hàm và cổ. Cũng di động dễ dàng, mật độ chắc, kèm theo sốt, thiếu máu chảy máu nhiều nơi. Chẩn đoán bằng xét nghiệm máu thấy bạch cầu tăng cao và có nhiều bạch cầu non. Có khi phải chọc dò tuỷ xương để quyết định chẩn đoán. Không cần sinh thiết hạch.
    1.4.2. Bệnh Hodgkin.

    Hạch thường nổi đầu tiên ở hố thượng đòn bên trái (6 lần nhiều hơn bên phải), kích thước có thễ nhỏ như hạt táo cũng có thể to như quả cam. Lúc đầu các hạch mọc riêng rẽ nên dễ nắn, giới hạn rõ rệt. Về sau các hạch có thể dình vào nhau thành đám. Ít khi bị loét gây lỗ rò ngoài da. Không đau hơi rắn.
    Bệnh thường gặp ở người lớn, tiến triển thành từng đợt. Mỗi đợt người bệnh thường sốt, ngứa và hạch mọc nhiều hơn. Thử máu có thể thấy bạch cầu ưa axit tăng cao.
    Cần chú ý tìm hạch ở nội tạng như trung thất , mạc treo. Trường hợp bệnh bắt đầu bằng hạch to trong trung thất thì chẩn đoán rất khó khăn, có khi phải chờ những đợt tiến triển hạch mọc ra ngoại vi.
    Chẩn đoán xác định bằng sinh thiết hạch, thấy có hình thái đa dạng tế bào và nhất là thấy loại tế bào Sternberg.
    IV. ÁP DỤNG THỰC TẾ.

    Đứng trước một người có hạch to cần phải:
    1. Kiểm tra kỹ những bộ phận có cùng một loại mê như hạch: gan, lách, amidan…
    2. Theo dõi tính chất nơi khu trú và tiến triển của hạch, tình trạng toàn thân: sốt, xanh xao, chảy máu…
    3. Làm một số xét nghiệm
    - Công thức máu.
    - Sinh thiết hạch. Trừ những bệnh về máu gây hạch to như các bệnh bạch cầu hoặc các bệnh sốt phát ban trong đó hạch to chỉ là một triệu chứng không quan trọng lắm, còn nói chung nếu hạch to là triệu chứng nổi bật thì phải tiến hành sinh thiết hạch để chẩn đoán chính ác.
    Để hệ thống hoá những bệnh gây hạch to thường gặp, chúng tôi tóm tắt vào bảng sau đây:
    Bệnh Tính chất hạch Triệu chứng kém Xét nghiệm cần làm
    Lao - Thường bắt đầu ở cổ rồi lan xuống dưới.
    - Bao giờ cũng có hạch cứng, hạch mềm. Có thể có lỗ rò.
    - Tiến triển chậm.
    - Gặp ở người trẻ tuổi.
    - Sức khoẻ toàn thân tương đối tốt trong thời gian dài.
    - Phản ứng bì (+).
    - Sinh thiết hạch thấy tế bào khổng lồ, hang lao và bã đậu.
    Ung thư hạch - To cả hai bên
    - Rất rắn, dễ bị loét
    - Dính vào nhau hoặc vào các mô xung quanh
    - Chèn ép bó mạch thần kinh bên cạnh.
    - Tiến triển nhanh
    - Gặp nhiều ở người có tuổi
    - Sức khoẻ toàn thân suy sụp nhanh.
    - Bệnh tiến triển liên tục.
    Sinh thiết hạch thấy tế bào ung thư.
    Hodgkin - Hạch nhiều, cái to, cái nhỏ, thường ở hố thượng đòn trước.
    - Hơi rắn, lúc đầu di động dễ, hạch riêng rẽ.
    - Không bao giờ rò.
    - Gặp nhiều ở người có tuổi
    - Tiến triển từng đợt: sốt ngứa.
    - Tình trạng toàn thân suy sụp dần.
    - Có thễ có hạch ở nội tạng, trung thất, ở bụng.
    Sinh thiết hạch thấy hình thức đa dạng tế bào, có nhiều Sternberg.
    Bệnh bạch cầu - Hạch to đều hai bên nhiều nơi.
    - Di động dễ dàng, bờ tròn nhẵn, dễ giới hạn.
    - Không bao giờ rò.
    Bạnh cầu kinh:
    - Người có tuổi.
    - Có thể thêm lách to.
    - Thiếu máu ít.
    Bạch cầu cấp:
    - Trẻ tuổi
    - Sốt. Chảy máu nhiều nơi.
    - Thiếu máu nhiều
    - Bạch cầu tuỷ tăng cao.
    - Không cần làm sinh thiết hạch.

  3. #3
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Hỏi về hiện tượng nổi hạch sau tai

    em 21 tuổi, sau tai phải em nổi hạch đã 3 tuần nay, hạch rắn thuôn dài không đau cũng không di chuyển, tai phải của em hơi đau ngoải ra không có triệu chứng gì khác .Xin hỏi bác sỹ hạch đó do gnuyên nhân gì, có nguy hiểm không, em xin chân thành cảm ơn!

    (Đỗ Thị Thuỳ)

    Trả lời:


    Vùng cổ và mặt có lưới hạch bạch huyết phong phú. Các nhóm hạch này có thể bị nhiễm khuẩn, nhất là nhóm dưới hàm, mang tai, bên cổ, má. Viêm hạch chiếm gần một nửa trong tổng số ca viêm nhiễm quanh xương hàm.

    Nguyên nhân gây viêm hạch cổ, mặt cấp tính thường là tổn thương vùng răng miệng (viêm quanh răng, quanh cuống răng, lợi, niêm mạc miệng, biến chứng sau nhổ răng), do tổn thương ở da (loét da, nhọt ở da) hoặc do viêm amiđan, viêm họng. Viêm hạch cấp thường gặp ở trẻ em. Vùng hay bị viêm là dưới hàm và bên cổ vì hầu hết các đường bạch huyết vùng đầu cổ đều dẫn tới đó.

    Trong chứng viêm hạch dưới hàm, người bệnh thấy đau ở vùng dưới hàm, nổi một hoặc vài cục hạch sưng, cứng ở mặt trong xương hàm dưới, lăn dưới tay. Da bình thường, sức khỏe ít bị ảnh hưởng, sốt nhẹ. Nếu cơ thể chống đỡ tốt và được điều trị tốt, triệu chứng trên chỉ kéo dài vài ngày, người bệnh bớt đau trong và ngoài miệng, hạch trở lại bình thường. Có trường hợp tiến triển sang quá trình làm mủ và viêm quanh hạch trong vài ngày sau với biểu hiện: đau tăng, vùng hạch viêm lan rộng, giới hạn không rõ. Viêm lan quá vùng dưới hàm; cử động miệng bị hạn chế, đau dữ dội, nhất là về đêm. Bệnh nhân mất ngủ, mệt mỏi, mạch nhanh, sốt cao 39 độ C. Da trở nên đỏ bóng, nóng. Dần dần, vùng dưới hàm nề cứng, sau đó mềm dần và hình thành ổ mủ.

    Viêm hạch lan tỏa dọc bên cổ thường do chứng nhiễm khuẩn răng khôn hàm dưới hay viêm họng gây ra. Biểu hiện ban đầu là nổi một hay vài hạch nhỏ bên cổ, giới hạn rõ, di động; sau đó là sưng nề, cứng dọc cơ ức đòn chũm, giới hạn không rõ, ấn vùng sưng rất đau. Cổ vẹo về bên bệnh, đau khi cử động cổ, nuốt, nói khó. Bệnh nhân sốt cao, mệt mỏi, vật vã.

    Chứng viêm hạch mủ bắt đầu bằng một cục u, sau đó sưng, có thể có mủ, giữa vùng sưng có thể ấn lõm. Trong phần mềm của má sờ thấy một dải cứng đi đến nơi gây thương tổn.

    Nguyên nhân gây viêm hạch mang tai là nhiễm khuẩn răng miệng hoặc viêm tai, da, nhiễm virus. Hạch cứng, di động, sau đó viêm quanh hạch.

    Chứng viêm hạch trong mang tai (giả viêm tuyến mang tai) có biểu hiện: sưng vùng tuyến mang tai, đau tự phát và khi sờ thấy giới hạn không rõ ràng, nước bọt tiết bình thường. Ở giai đoạn làm mủ, mủ lan tỏa ra cả vùng tuyến mang tai làm thành áp xe vùng mang tai.

    Viêm hạch cổ, mặt mạn tính thường xảy ra sau những đợt viêm hạch tái phát nhiều lần nhưng cũng có trường hợp tiến triển mạn tính ngay từ đầu (hạch lao, giang mai, ung thư). Biểu hiện: hạch nổi to, di động, chắc, da bình thường, không đau, nhiều tổ chức xơ. Hạch tồn tại nhiều năm hoặc có những lúc viêm cấp, sau đó lại khỏi.

    Về điều trị, cần chống viêm toàn thân và tại chỗ, nâng cao thể trạng đối với trường hợp viêm hạch cấp. Nếu có mủ, phải rạch dẫn lưu mủ phối hợp với kháng sinh.

    Tuy nhiên muốn chẩn đoán chính xác hạch viêm hay do các nguyên nhân khác cần dựa vào siêu âm chọc hạch và sinh thiết hạch. Bạn cần đi khám để được chẩn đoán chính xác nguyên nhân và được chỉ đinh điều trị.

    Chúc bạn mau khỏi!
    Bs.Thuocbietduoc
    (Lưu ý: Chữa bệnh theo chỉ định của Bác sĩ)

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •