Kết quả 1 đến 20 của 38

Chủ đề: Khi nào thì nổi hạch là triệu chứng nguy hiểm?

Hybrid View

  1. #1
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    CHẨN ĐOÁN HẠCH TO

    I. ĐẠI CƯƠNG.

    Thường mọi bệnh lý của hệ thống tổ chức tân đều biểu hiện trên lầm sàng bằng những hạch to. Do đó chẩn đoán hạch to cho ta một ý niệm rõ ràng về những bệnh của hệ thống này.
    Chẩn đoán nguyên nhân hạch to thường dễ, nếu chỉ là một triệu chứng nằm trong một bệnh cảnh có nhiều hội chứng cấp tính hơn. Nhưng nếu hạch to là một triệu chứng duy nhất hoặc nổi bật thì chẩn đoán thường khó khăn. Lúc đó cần phải tiến hành xét nghiệm chọc hạch hoặc sinh thiết hạch để có chẩn đoán quyết định.
    II. CÁCH KHÁM MỘT NGỪƠI CÓ HẠCH TO.

    1. Khám hạch.

    1.1. Vị trí hạch:

    Thường hạch to ở dưới hàm, hai bên cổ phía sau cơ ức đòn chũm, hố thượng đòn, nách, bẹn, khoeo chân, khuỷu tay. Hạch nửa người trên thường là hạch lao, hạch ung thư hay hạch trong bệnh Hodgkin: hạch bẹn thường nghĩ đến bệnh hoa liễu, ung thư hạch…
    Cần xem hạch ở một bên hoặc hai bên, và nếu có cả hai bên, cần xem có đều khau không?.
    1.2. Thể tích và mật độ:

    Cần xem hạch to hay nhỏ. Hạch lao, hạch viêm thường, hạch di căn ung thư, hạch trong các bệnh bạch huyết thường nhỏ. Ung thư hạch hoặc hạch trong bệnh Hodgkin thường to hơn.
    Chú ý xem mật độ hạch rắn hay mềm. Hạch lao trong giai đoạn đầu hoặc giai đoạn bã đậu hoá, hạch viêm thường mềm. Hạch ung thư, Hoodgkin thường rắn.hạch trong các bệnh bạch cầu, mật độ thường chắc.
    1.3. Hình thể:

    Hạch tròn đều nhẵn, bờ rõ rệt gặp trong bệnh bạch cầu. Hạch lao ung thư thường dính vào nhau làm thành từng đám hoặc dính vào mô xung quanh nên lổn nhổn không đều, khó giới hạn rõ rệt.
    1.4. Độ di động.

    Trong bệnh bạch cầu hoặc hạch di căn ung thư, thường hạch nọ tách rời hạch kia nên di động dễ dàng. Trái với hạch ung thư, hạch lao di động dễ dàng trong giai đoạn đầu nhưng sau thường dính vào da hoặc mô xung quanh nhưng cũng khó di động.
    1.5. Đau, nóng:

    Hạch viêm cấp thường đau, nóng, đỏ. Còn hạch ung thư lao, hạch trong bệnh bạch cầu thường không đau. Tuy nhiên, khi hạch phát triển, chèn ép vào các dây thần kinh bên cạnh, gây đau một vùng đó. Hạch bội nhiễm, hạch có thể đỏ lên và đau.
    1.6. Tiến triển:

    Hạch của bệnh Hodgkin xuất hiện từng đợt. Hạch lao tiến triển chậm hơn hạch ung thư. Cần chú ý đến các vết sẹo trên các hạch to. Hạch có lỗ rò hoặc sẹo căn rúm làm ta nghĩ nhiều đến hạch lao, nhất là nếu lại mọc ở cổ (tràng nhạc).
    Trên đây là những yêu cầu kiểm tra khi có hạch to ở ngoại biên, tay ta có thể sờ nắn được. Trường hợp hạch to trong nội tạng như hạch trung thất, hạch mạc treo… lúc đó phương pháp lâm sàng không thể phát hiện hoặc rất khó phát hiện (hạch mạc treo). Cần phải dùng Xquang soi hoặc chụp cắt lớp. Có khi phải soi ổ bụng hoặc nếu cần, mở bụng thăm dò mới phát hiện ra được hạch to.
    2. Chẩn đoán phân biệt.

    - Các u nang, u mỡ dưới da: thường mềm hơn và nhiều khi không ở trong những vùng của hạch bạch huýêt.
    - U nang bươu giáp trạng đơn thuần hoặc nhân giáp trạng: di động theo nhịp nuốt, mật độ thường mềm hơn, nhất là u nang.
    - Thoát vị bẹn: có thể đẩy lên được.
    - U trung thất: rất khó phân biệt định, cần chụp cắt lớp.
    - U mạc treo: rất khó phân biệt với hạch. Soi ổ bụng, có khi phải mổ thăm dò ở ổ bụng.
    III. KHÁM XÉT CÁC BỘ PHẬN KHÁC

    Sau khi đã xác định hạch to, cần chú ý kiểm tra gan lách, phát hiện các bệnh về máu.
    1. Chẩn đoán nguyên nhân hạch to.

    1.1. Hạch viêm cấp tính.

    1.1.1. Viêm nhiễm gây sưng tấy một vùng.

    Thường ở những vùng có hạch bạch huyết chi phối, khi bị viêm nhiễm hạch này sẽ sưng lên. Thí dụ viêm họng gây hạch to ở dưới hàm. Nhọt dưới đùi có nhọt ở bẹn, bắp chuối: zona ở ngực có hạch ở nách… hạch ở đây cũng có tính chất của một viêm nhiễm: sưng, nóng, đỏ, đau. Mật độ thường chắc. Số lượng ít, chỉ một hai hạch, di động được và không dính vào nhau. Hạch có thể tiến triển làm mủ gây loét, nhất là khi bị bẩn, ở những chỗ bị cọ xát nhiều như nách (ổ gà).
    1.1.2. Một số bệnh số phát ban thành dịch:

    Như bệnh đăng gơ, bệnh rubêôn. Hạch nổi ban đỏ khắp người, đau các đầu xương, sốt. Bệnh gây thành dịch, lành tính. Khi khỏi bệnh hạch cũng lặn, nhưng thường sau một thời gian lâu mới hết.
    1.1.3. Bệnh nhiễm khuẩn có tăng bạch cầu đơn nhân:

    Hạch nổi lên ở nhiều nơi, không đau, dễ di động mật độ chắc. Người bệnh có sốt cao, cũng phát ban khắp người như rubêôn, nhưng khi thử máu thấy bạch cầu đơn nhân tăng nhiều bệnh lành tính.
    1.2. Bệnh viêm mạn tính.

    1.2.1. Hạch do cơ địa:

    Thường thấy ở một số người gầy yếu, sức khoẻ toàn thân kém. Hạch thường ở bẹn, nhỏ, di động dễ, không đau. Mật độ chắc. Hạch sẽ hết khi sức khoẻ toàn thân khá hơn, không cần điều trị gì.
    1.2.2. Hạch trong bệnh hoa liễu.

    - Hạch trong bệnh giang mai: trong giai đoạn đầu của bệnh (mới mắc) hạch nổi to gần chỗ xâm nhập của xoắn trùng (bẹn). Thường có 4 -5 hạch nhỏ. Hơi rắn, di động dễ, không đau. Sang giai đoạn II, hạch có thể gặp ở tất cả mọi nơi trong cơ thể và to hơn.
    - Bệnh Nicolas Favre: Hạch khá to ở bẹn (quả soài). Thường nhiều hạch đính vào nhau thành một đám, không dính vào tổ chức xung quanh. Dễ làm mủ từng điểm nhỏ trên mặt hạch và khi rò có nhiều lỗ trông như một cái hương sen.
    1.2.3. Hạch lao:

    Lúc đầu, thường hạch ở hai bên cổ, trước và sau cơ ức đòn chũm, sau mới lên hạch sau gáy, hố thượng đòn, ít khi gặp hạch to ở nách và bẹn. Hạch nổi thành từng chuỗi (tràng nhạc). Cũng có khi chỉ có một hạch to nổi lên một bên cổ.
    Xuất hiện và tiến triển từ từ. Lúc đầu thường chắc nhẵn, dễ di động không đau. Về sau có nhiều hạch dính vào nhau hoặc dính vào da phía trên nên di động khó khăn hơn. Lúc này hạch đã có thể bã đậu hoá nên mềm và to nhanh hơn. Hạch bã đậu có thể thủng ra ngoài da gây một lỗ rò rất lâu lành làm miệng lỗ rò nham nhở, màu hơi tím, luôn chảy ra một thứ nước vàng xanh, lổn nhổn trắng như bã đậu. Khi lỗ rò gắn miệng, để lại một vết sẹo nhăn dúm rất xấu.
    Cũng có thể hạch không bã đậu hoá mà vôi hoá nên bé lại và mật độ rắn.
    Trên cùng một đám hạch lao, ta có thấy những hạch có mật độ khác nhau, tuỳ theo thời gian xuất hiện của mỗi hạch. Yếu tố này quan trọng cho chẩn đoán bệnh lao.
    Lao thường gặp ở trẻ con và người trẻ tuổi. Cẩn kiểm tra kỹ hệ thống hạch sâu ở phổi và màng bụng.
    1.3. Hạch ung thư:

    1.3.1. Ung thư hạch:

    Thường hạch to, mật độ rắn, ít di động vì dính vào tổ chức ở sâu. Có thể là những hạch riêng lẻ nhưng cũng có khi dính vào nhau thành từng đám. Có thễ có những triệu chứng đi kèm theo như phù, đau chung quanh chổ hạch to do thần kinh, mạch máu bị chèn ép.
    Chẩn đoán quyết định bằng sinh thiết hạch thấy tế bào ung thư.
    1.3.2. Ung thư di căn.

    Thường ung thư vú có di căn hạch nách, ung thư tử cung, dương vật di căn hạch bẹn, ung thư dạ dày di căn hạch cổ… chẩn đoán bằng tìm thấy ổ ung thư tiên phát hoặc sinh thiết hạch thấy có tế bào ung thư di căn.
    1.4. Hạch to trong các bệnh về máu.

    1.4.1. Bệnh bạch cầu.

    - Bệnh bạch cầu kinh thể lymphô. Hạch to nhiều nơi, cả hai bên. Thể tích thay đổi, có thể to bằng quả quít. Bề mặt đều, nhẵn, mật độ chắc, độc lập đối với nhau và di động dễ dàng. Giới hạn hạch rõ rệt vì không dính vào nhau và các mô xung quanh. Chẩn đoán bằng xét nghiệm máu và nếu cần, chọc dò tuỷ. Không cần sinh thiết hạch.
    - Bạch cầu cấp: hạch ít và nhỏ hơn, thường nổi nhiều ở dưới hàm và cổ. Cũng di động dễ dàng, mật độ chắc, kèm theo sốt, thiếu máu chảy máu nhiều nơi. Chẩn đoán bằng xét nghiệm máu thấy bạch cầu tăng cao và có nhiều bạch cầu non. Có khi phải chọc dò tuỷ xương để quyết định chẩn đoán. Không cần sinh thiết hạch.
    1.4.2. Bệnh Hodgkin.

    Hạch thường nổi đầu tiên ở hố thượng đòn bên trái (6 lần nhiều hơn bên phải), kích thước có thễ nhỏ như hạt táo cũng có thể to như quả cam. Lúc đầu các hạch mọc riêng rẽ nên dễ nắn, giới hạn rõ rệt. Về sau các hạch có thể dình vào nhau thành đám. Ít khi bị loét gây lỗ rò ngoài da. Không đau hơi rắn.
    Bệnh thường gặp ở người lớn, tiến triển thành từng đợt. Mỗi đợt người bệnh thường sốt, ngứa và hạch mọc nhiều hơn. Thử máu có thể thấy bạch cầu ưa axit tăng cao.
    Cần chú ý tìm hạch ở nội tạng như trung thất , mạc treo. Trường hợp bệnh bắt đầu bằng hạch to trong trung thất thì chẩn đoán rất khó khăn, có khi phải chờ những đợt tiến triển hạch mọc ra ngoại vi.
    Chẩn đoán xác định bằng sinh thiết hạch, thấy có hình thái đa dạng tế bào và nhất là thấy loại tế bào Sternberg.
    IV. ÁP DỤNG THỰC TẾ.

    Đứng trước một người có hạch to cần phải:
    1. Kiểm tra kỹ những bộ phận có cùng một loại mê như hạch: gan, lách, amidan…
    2. Theo dõi tính chất nơi khu trú và tiến triển của hạch, tình trạng toàn thân: sốt, xanh xao, chảy máu…
    3. Làm một số xét nghiệm
    - Công thức máu.
    - Sinh thiết hạch. Trừ những bệnh về máu gây hạch to như các bệnh bạch cầu hoặc các bệnh sốt phát ban trong đó hạch to chỉ là một triệu chứng không quan trọng lắm, còn nói chung nếu hạch to là triệu chứng nổi bật thì phải tiến hành sinh thiết hạch để chẩn đoán chính ác.
    Để hệ thống hoá những bệnh gây hạch to thường gặp, chúng tôi tóm tắt vào bảng sau đây:
    Bệnh Tính chất hạch Triệu chứng kém Xét nghiệm cần làm
    Lao - Thường bắt đầu ở cổ rồi lan xuống dưới.
    - Bao giờ cũng có hạch cứng, hạch mềm. Có thể có lỗ rò.
    - Tiến triển chậm.
    - Gặp ở người trẻ tuổi.
    - Sức khoẻ toàn thân tương đối tốt trong thời gian dài.
    - Phản ứng bì (+).
    - Sinh thiết hạch thấy tế bào khổng lồ, hang lao và bã đậu.
    Ung thư hạch - To cả hai bên
    - Rất rắn, dễ bị loét
    - Dính vào nhau hoặc vào các mô xung quanh
    - Chèn ép bó mạch thần kinh bên cạnh.
    - Tiến triển nhanh
    - Gặp nhiều ở người có tuổi
    - Sức khoẻ toàn thân suy sụp nhanh.
    - Bệnh tiến triển liên tục.
    Sinh thiết hạch thấy tế bào ung thư.
    Hodgkin - Hạch nhiều, cái to, cái nhỏ, thường ở hố thượng đòn trước.
    - Hơi rắn, lúc đầu di động dễ, hạch riêng rẽ.
    - Không bao giờ rò.
    - Gặp nhiều ở người có tuổi
    - Tiến triển từng đợt: sốt ngứa.
    - Tình trạng toàn thân suy sụp dần.
    - Có thễ có hạch ở nội tạng, trung thất, ở bụng.
    Sinh thiết hạch thấy hình thức đa dạng tế bào, có nhiều Sternberg.
    Bệnh bạch cầu - Hạch to đều hai bên nhiều nơi.
    - Di động dễ dàng, bờ tròn nhẵn, dễ giới hạn.
    - Không bao giờ rò.
    Bạnh cầu kinh:
    - Người có tuổi.
    - Có thể thêm lách to.
    - Thiếu máu ít.
    Bạch cầu cấp:
    - Trẻ tuổi
    - Sốt. Chảy máu nhiều nơi.
    - Thiếu máu nhiều
    - Bạch cầu tuỷ tăng cao.
    - Không cần làm sinh thiết hạch.
    ads

  2. Có 2 người đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết bổ ích này:

    Hon5thang (21-10-2013),xindoi1_cohoi (21-10-2013)

  3. #2
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Triệu Chứng Học " Nổi hạch-sưng hạch bạch huyết"

    Nổi hạch-sưng hạch bạch huyết


    Hạch bạch huyết (được gọi lầm là tuyến bạch huyết) là một phần của hệ bạch huyết thuộc hệ miễn dịch của cơ thể. Nổi hạch (hạch bạch huyết sưng lớn lên) có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng.

    Bình thường, bên trong cơ thể chúng ta có một số nhóm hạch bạch huyết, chúng là những nốt mềm, nhỏ, có hình hạt đậu. Những hạch thường bị sưng hoặc phì đại nhất là những hạch nằm ở cổ, dưới cằm, nách và ở háng.

    * Hệ bạch huyết là một hệ thống bao gồm các hạch và những ống phân bố rộng khắp cơ thể. Chúng mang các dịch bạch huyết [là những dịch mô bao quanh các tế bào có chứa những tế bào máu (tế bào lympho), dịch từ các quai ruột (dịch dưỡng trấp), và một số ít các hồng cầu] quay ngược trở lại hệ tuần hoàn nhờ tĩnh mạch. Dịch bạch huyết mang tập hợp những chất gây nhiễm và những chất lạ đối với cơ thể (kháng nguyên).
    * Hạch bạch huyết là một cụm nhỏ các tế bào được bọc xung quanh bởi một bao và có các ống tuyến đi vào và đi ra khỏi chúng. Các tế bào trong hạch bạch huyết được gọi là các tế bào bạch huyết (tế bào lympho), chúng có chức năng tạo ra các kháng thể (là những hạt protein trói buộc các chất lạ lại bao gồm những hạt gây nhiễm trùng) và những đại thực bào sẽ tiêu hóa những mảnh vụn này. Chúng đóng vai trò các tế bào dọn dẹp của cơ thể.
    * Các hạch bạch huyết là những vị trí quan trọng khi những chất lạ và các tác nhân nhiễm trùng tương tác với các tế bào thuộc hệ miễn dịch. Cụm các hạch lympho lớn nhất của cơ thể là lách, ngoài những chức năng khác, lách còn giúp cơ thể chiến đấu chống nhiễm trùng và đáp ứng lại với các chất lạ đối với cơ thể.

    NGUYÊN NHÂN

    Có một số cơ chế có thể gây ra sự phì đại của các hạch bạch huyết (nổi hạch):

    * Nhiễm trùng: làm tăng số lượng các bạch cầu do chúng được nhân lên để đáp ứng với kích thích của các chất lạ (kháng nguyên).
    * Virus: phản ứng miễn dịch đối với nhiễm trùng toàn thể của cơ thể chẳng hạn như nhiễm virus có thể xảy ra cùng với cúm cũng như những nhiễm trùng nặng hơn, chẳng hạn như HIV.
    * Viêm: sự thâm nhiễm các tế bào viêm do nhiễm trùng hoặc quá trình viêm xảy ra trong vùng của các hạch bạch huyết.
    * Ung thư: thâm nhiễm các tế bào ác tính (sự di căn) vào các hạch từ những dòng bạch huyết xuất phát từ khu vực của một số loại ung thư.
    * Ung thư máu: sự nhân lên không kiểm soát được và ác tính của các tế bào lympho, chẳng hạn như trong bệnh lymphoma hay bệnh bạch cầu.

    TRIỆU CHỨNG

    * Triệu chứng tùy thuộc vào vị trí hạch và nguyên nhân gây phì đại hạch.
    * Bệnh nhân có thể có những triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp trên (chảy nước mũi, đau họng, sốt) và cảm thấy nổi một số hạch căng nhẹ ở dưới da xung quanh tai, dưới cằm, hoặc ở phần trên của cổ.
    * Đôi khi có thể có nhiễm trùng da, đỏ, hoặc đau họng, và bệnh nhân có thể cảm thấy hạch bạch huyết lân cận theo hướng về phía tim bị phì đại.
    * Sưng những hạch bạch huyết nằm sâu bên trong cơ thể có thể gây ra những hậu quả khác với những hạch bạch huyết nằm ngay dưới da. Tắc nghẽn dòng chảy của bạch huyết do bị sưng các hạch bạch huyết nằm sâu có thể gây ra sưng chân hoặc ho kéo dài, ngay cả khi bạn không cảm thấy được sự sưng lên của các hạch này.
    * Một số dạng nhiễm trùng (nhiễm trùng tăng bạch cầu đơn nhân, HIV, và nhiễm nấm hoặc ký sinh trùng) có thể gây sưng hạch bạch huyết trên khắp cơ thể.
    * Một số rối loạn miễn dịch, chẳng hạn như lupus hay viêm khớp dạng thấp, cũng có thể gây sưng hạch khắp cơ thể.
    * Trong một số trường hợp hiếm gặp, bệnh nhân có thể có một hạch hoặc một nhóm hạch lớn lên nhanh chóng và trở nên cứng và không thể đẩy di động được dễ dàng ở dưới da.

    KHI NÀO CẦN ĐẾN GẶP BÁC SĨ

    Nếu chỉ là những hạch viêm đơn thuần thì thường chúng không phải là mối quan tâm lớn, nhưng nếu bạn có những triệu chứng của những bệnh khác kèm theo phì đại hạch bạch huyết, bạn nên đi khám bệnh.

    Hãy đi khám nếu như:

    * Hạch sưng từ 2 tuần trở lên hoặc bạn có những triệu chứng như sụt cân, vã mồ hôi đêm, mệt mỏi, hoặc sốt kéo dài.
    * Hạch cứng, dính chặt vào da, hoặc phát triển nhanh chóng.
    * Bạn cảm thấy sưng gần xương đòn hoặc ở phần dưới của cổ.
    * Vùng da phía trên hạch chuyển màu đỏ và viêm và bạn nghi ngờ có nhiễm trùng.

    Chẩn đoán sưng hạch bạch huyết hiếm khi cần phải cấp cứu. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ, chẳng hạn như nhiễm trùng da tiến triển cần phải điều trị, hạch bạch huyết nhiễm trùng nặng cần phải được dẫn lưu, hoặc đau đớn nặng nề.

    KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

    * Bác sĩ sẽ hỏi bệnh nhân về những triệu chứng đi kèm theo và sau đó sẽ tiến hành khám.
    * Tùy thuộc vào mức độ lan tràn của bệnh, bác sĩ có thể cho xét nghiệm công thức máu, chụp X quang và CT scan những vùng bị ảnh hưởng.
    * Có thể cần phải sinh thiết hạch bị sưng. Mẫu mô lấy đi sẽ được gửi cho các nhà giải phẫu bệnh nghiên cứu dưới kính hiển vi để xác định nguyên nhân gây sưng hạch.

    ĐIỀU TRỊ

    Tại nhà

    Nếu bệnh nhân có những triệu chứng cảm lạnh hoặc những nhiễm trùng nhẹ khác có thể cần hoặc không cần uống kháng sinh và nổi hạch trong vòng khoảng 2 tuần rồi sau đó trở về bình thường thì không cần phải điều trị đặc hiệu.

    * Nếu hạch nhỏ (nhỏ hơn 2cm), nằm ở háng, hoặc dưới cằm ở bệnh nhân trưởng thành trẻ thì được xem là bình thường.
    * Trẻ em thường có hệ bạch huyết hoạt động hơn người lớn nên có thể có cảm giác các hạch của chúng bị phì đại.

    Tại bệnh viện

    Nếu một hạch bạch huyết lớn nhanh trong vòng từ 1 đến 2 ngày thì nó thường có nguyên nhân và cách điều trị khác với những hạch bạch huyết bị sưng trong vòng vài tháng. Hãy trình bày mối lo lắng của mình với bác sĩ khi đi khám vì điều này có thể giúp bác sĩ thiết lập được chẩn đoán.

    * Cách điều trị chuẩn đối với những hạch bạch huyết bị phì đại có thể là dùng thuốc giảm đau và hạ sốt, chẳng hạn như ibuprofen và acetaminophen. Có thể đắp vải ấm để làm giảm sưng.
    * Nếu nguyên nhân gây sưng là nhiễm trùng, bác sĩ có thể kê toa cho bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh hoặc thuốc kháng virus.
    * Nếu có ổ áp xe, có thể cần phải được dẫn lưu bằng cách rạch ra và trám đầy bằng gạc.
    * Nếu hạch sưng do nguyên nhân ác tính, có thể cần phải phẫu thuật, xạ trị, hay hóa trị.
    * Nếu bệnh nhân bị rối loạn miễn dịch, có thể sẽ được bác sĩ kê toa những loại thuốc phù hợp.

    TIÊN LƯỢNG

    Phần lớn những trường hợp nổi hạch đều tự khỏi mà không để lại di chứng gì.

    (Nguồn Y học NET )​



  4. Những thành viên đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết này:

    Hon5thang (21-10-2013)

  5. #3
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Hạch bẹn sưng - Bệnh gì?

    Sức Khỏe Đời Sống - 16/10/2013 13:27

    Hội chứng sưng hạch bẹn là viêm của các hạch lympho ở vùng bẹn, có thể đau và có thể có mủ. Khi các hạch này vỡ ra, chúng giống các vết loét ở vùng bẹn. Hội chứng sưng hạch bẹn có thể gặp ở cả nam và nữ.

    Biểu hiện
    Thông thường sưng hạch bẹn to ở 1 hoặc cả 2 bên, có thể kèm theo xuất hiện các vết loét, mụn nước, sẩn nhỏ vùng hậu môn, sinh dục hoặc xuất hiện trước khi sưng hạch. Ngoài ra, còn có các biểu hiện khác ở da hoặc niêm mạc: sẩn, sẩn mủ, đào ban đặc biệt chú ý thương tổn ở lòng bàn tay và bàn chân. Sốt hoặc không sốt.


    Khám và tư vấn cho bệnh nhân tại Trung tâm Nam học - Bệnh viện Việt Đức. Ảnh: N. Tuấn
    Các nguyên nhân thường gặp
    Có rất nhiều nguyên nhân của sưng hạch bẹn như: Do các vết thương, vết trầy xước da gây nhiễm khuẩn cấp tính ở chân, bàn chân cùng bên. Tuy nhiên, sưng hạch bẹn cũng có thể do những nguyên nhân sau:
    Viêm hạch do giang mai: Là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn Treponema pallidum (xoắn khuẩn giang mai) gây ra. Nếu giang mai ở giai đoạn I: thường hạch to, di động, khu trú phổ biến là ở một bên bẹn, trong chùm hạch có một hạch to hơn hẳn gọi là "hạch chúa". Nếu giang mai ở giai đoạn II: hạch lan tràn hai bên bẹn và nhiều nơi khác: nách, cổ, dưới hàm. Kèm các biểu hiện khác: đào ban, sẩn, mảng niêm mạc, rụng tóc, có thể có sốt...

    Viêm hạch do hạ cam: Hạ cam là một bệnh lây qua đường tình dục, do trực khuẩn gram âm Hemopilus ducreyi gây ra. Bệnh còn có thể lây từ người sang người do tiếp xúc với vết loét. Thời gian ủ bệnh từ 3-5 ngày. Muốn phát hiện bệnh cần phải dựa vào các triệu chứng sau: tổn thương nơi đường vào lúc đầu là vết sẩn mụn phỏng, sau đó vỡ ra tạo nên nốt loét đau, mềm, có đáy hoại tử và vòng đỏ xung quanh bờ không rõ ràng. Có khi có nhiều vết loét do lây tại chỗ và viêm hạch bẹn, xuất hiện sau 2 tuần khi có vết loét hạ cam. Thường chỉ có một hạch viêm ở một bên bẹn. Hạch đỏ, nóng, sưng, đau. Hạch vỡ mủ (như màu sô cô la), tạo thành vết loét lâu lành có bờ nham nhở.
    Viêm hạch do u hạt bạch huyết hoa liễu: Hay còn gọi là bệnh Nicolas-Favre, lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt trong những nam giới sinh hoạt đồng tính. Diễn biến của bệnh rất khó nhận biết, trải qua nhiều giai đoạn: Loét hậu môn, đôi khi chít hẹp hậu môn, lỗ rò quanh hậu môn, mưng mủ, rồi xuất hiện các biểu hiện trầm trọng trên da, gây tổn thương tới các khớp. Viêm hạch xuất hiện vài ngày, vài tuần sau khi có mụn nước, sẩn nhỏ hoặc vết loét. Viêm hạch thường ở một bên (phổ biến là ở bẹn). Các hạch viêm thường tạo thành một khối, không di động, mềm dần và chảy mủ ra ngoài thành nhiều lỗ dò hoặc đường hầm thông nhau giống như "gương sen".
    Vì vậy, khi mắc các bệnh kể trên phải điều trị sớm, để phòng tránh sưng hạch. Nếu có các triệu chứng sưng hạch bẹn và kèm theo các triệu chứng khác thì cần phải đến cơ sở y tế để được điều trị.
    Bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn


  6. Những thành viên đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết này:

    Hon5thang (21-10-2013)

  7. #4
    Nhóm Cần Tư Vấn
    Ngày tham gia
    16-04-2014
    Giới tính
    Nam
    Bài viết
    51
    Cảm ơn
    74
    Được cảm ơn 2 lần trong 1 bài viết.
    Trích dẫn Gửi bởi songchungvoi_HIV Xem bài viết
    Hạch bẹn sưng - Bệnh gì?

    Sức Khỏe Đời Sống - 16/10/2013 13:27

    Hội chứng sưng hạch bẹn là viêm của các hạch lympho ở vùng bẹn, có thể đau và có thể có mủ. Khi các hạch này vỡ ra, chúng giống các vết loét ở vùng bẹn. Hội chứng sưng hạch bẹn có thể gặp ở cả nam và nữ.

    Biểu hiện
    Thông thường sưng hạch bẹn to ở 1 hoặc cả 2 bên, có thể kèm theo xuất hiện các vết loét, mụn nước, sẩn nhỏ vùng hậu môn, sinh dục hoặc xuất hiện trước khi sưng hạch. Ngoài ra, còn có các biểu hiện khác ở da hoặc niêm mạc: sẩn, sẩn mủ, đào ban đặc biệt chú ý thương tổn ở lòng bàn tay và bàn chân. Sốt hoặc không sốt.


    Khám và tư vấn cho bệnh nhân tại Trung tâm Nam học - Bệnh viện Việt Đức. Ảnh: N. Tuấn
    Các nguyên nhân thường gặp
    Có rất nhiều nguyên nhân của sưng hạch bẹn như: Do các vết thương, vết trầy xước da gây nhiễm khuẩn cấp tính ở chân, bàn chân cùng bên. Tuy nhiên, sưng hạch bẹn cũng có thể do những nguyên nhân sau:
    Viêm hạch do giang mai: Là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn Treponema pallidum (xoắn khuẩn giang mai) gây ra. Nếu giang mai ở giai đoạn I: thường hạch to, di động, khu trú phổ biến là ở một bên bẹn, trong chùm hạch có một hạch to hơn hẳn gọi là "hạch chúa". Nếu giang mai ở giai đoạn II: hạch lan tràn hai bên bẹn và nhiều nơi khác: nách, cổ, dưới hàm. Kèm các biểu hiện khác: đào ban, sẩn, mảng niêm mạc, rụng tóc, có thể có sốt...

    Viêm hạch do hạ cam: Hạ cam là một bệnh lây qua đường tình dục, do trực khuẩn gram âm Hemopilus ducreyi gây ra. Bệnh còn có thể lây từ người sang người do tiếp xúc với vết loét. Thời gian ủ bệnh từ 3-5 ngày. Muốn phát hiện bệnh cần phải dựa vào các triệu chứng sau: tổn thương nơi đường vào lúc đầu là vết sẩn mụn phỏng, sau đó vỡ ra tạo nên nốt loét đau, mềm, có đáy hoại tử và vòng đỏ xung quanh bờ không rõ ràng. Có khi có nhiều vết loét do lây tại chỗ và viêm hạch bẹn, xuất hiện sau 2 tuần khi có vết loét hạ cam. Thường chỉ có một hạch viêm ở một bên bẹn. Hạch đỏ, nóng, sưng, đau. Hạch vỡ mủ (như màu sô cô la), tạo thành vết loét lâu lành có bờ nham nhở.
    Viêm hạch do u hạt bạch huyết hoa liễu: Hay còn gọi là bệnh Nicolas-Favre, lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt trong những nam giới sinh hoạt đồng tính. Diễn biến của bệnh rất khó nhận biết, trải qua nhiều giai đoạn: Loét hậu môn, đôi khi chít hẹp hậu môn, lỗ rò quanh hậu môn, mưng mủ, rồi xuất hiện các biểu hiện trầm trọng trên da, gây tổn thương tới các khớp. Viêm hạch xuất hiện vài ngày, vài tuần sau khi có mụn nước, sẩn nhỏ hoặc vết loét. Viêm hạch thường ở một bên (phổ biến là ở bẹn). Các hạch viêm thường tạo thành một khối, không di động, mềm dần và chảy mủ ra ngoài thành nhiều lỗ dò hoặc đường hầm thông nhau giống như "gương sen".
    Vì vậy, khi mắc các bệnh kể trên phải điều trị sớm, để phòng tránh sưng hạch. Nếu có các triệu chứng sưng hạch bẹn và kèm theo các triệu chứng khác thì cần phải đến cơ sở y tế để được điều trị.
    Bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn

    e cũng nổi hạch ở bẹn, sưng đau, nhưng ấn hạch rất nhỏ, triệu chứng kéo dài hơn 2 tháng( trong 2 tháng có lúc ko cảm thấy biểu hiện sưng đau, nhưng vẫn có hạch), đi kèm là triệu chứng nhức mỏi bắp chân cũng kéo dài đột 2 tháng. vậy e có cần đi khám hay xét nghiệm gì ko ạ? ( đã tiến hành xn hiv ở thời điểm 3 tháng và 12 tháng sau khi có nguy cơ kết quả âm tính) tự dưng xuất hiện triệu chứng này đâm lo lắng. anh có thể tư vấn giúp e được ko?

  8. #5
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Trích dẫn Gửi bởi juiconk49 Xem bài viết
    e cũng nổi hạch ở bẹn, sưng đau, nhưng ấn hạch rất nhỏ, triệu chứng kéo dài hơn 2 tháng( trong 2 tháng có lúc ko cảm thấy biểu hiện sưng đau, nhưng vẫn có hạch), đi kèm là triệu chứng nhức mỏi bắp chân cũng kéo dài đột 2 tháng. vậy e có cần đi khám hay xét nghiệm gì ko ạ? ( đã tiến hành xn hiv ở thời điểm 3 tháng và 12 tháng sau khi có nguy cơ kết quả âm tính) tự dưng xuất hiện triệu chứng này đâm lo lắng. anh có thể tư vấn giúp e được ko?
    Muốn biết bấm vào đây xem:
    Chức năng đề kháng của cơ thể


  9. Những thành viên đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết này:

    juiconk49 (24-04-2015)

  10. #6
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Hỏi về hiện tượng nổi hạch sau tai

    em 21 tuổi, sau tai phải em nổi hạch đã 3 tuần nay, hạch rắn thuôn dài không đau cũng không di chuyển, tai phải của em hơi đau ngoải ra không có triệu chứng gì khác .Xin hỏi bác sỹ hạch đó do gnuyên nhân gì, có nguy hiểm không, em xin chân thành cảm ơn!

    (Đỗ Thị Thuỳ)

    Trả lời:


    Vùng cổ và mặt có lưới hạch bạch huyết phong phú. Các nhóm hạch này có thể bị nhiễm khuẩn, nhất là nhóm dưới hàm, mang tai, bên cổ, má. Viêm hạch chiếm gần một nửa trong tổng số ca viêm nhiễm quanh xương hàm.

    Nguyên nhân gây viêm hạch cổ, mặt cấp tính thường là tổn thương vùng răng miệng (viêm quanh răng, quanh cuống răng, lợi, niêm mạc miệng, biến chứng sau nhổ răng), do tổn thương ở da (loét da, nhọt ở da) hoặc do viêm amiđan, viêm họng. Viêm hạch cấp thường gặp ở trẻ em. Vùng hay bị viêm là dưới hàm và bên cổ vì hầu hết các đường bạch huyết vùng đầu cổ đều dẫn tới đó.

    Trong chứng viêm hạch dưới hàm, người bệnh thấy đau ở vùng dưới hàm, nổi một hoặc vài cục hạch sưng, cứng ở mặt trong xương hàm dưới, lăn dưới tay. Da bình thường, sức khỏe ít bị ảnh hưởng, sốt nhẹ. Nếu cơ thể chống đỡ tốt và được điều trị tốt, triệu chứng trên chỉ kéo dài vài ngày, người bệnh bớt đau trong và ngoài miệng, hạch trở lại bình thường. Có trường hợp tiến triển sang quá trình làm mủ và viêm quanh hạch trong vài ngày sau với biểu hiện: đau tăng, vùng hạch viêm lan rộng, giới hạn không rõ. Viêm lan quá vùng dưới hàm; cử động miệng bị hạn chế, đau dữ dội, nhất là về đêm. Bệnh nhân mất ngủ, mệt mỏi, mạch nhanh, sốt cao 39 độ C. Da trở nên đỏ bóng, nóng. Dần dần, vùng dưới hàm nề cứng, sau đó mềm dần và hình thành ổ mủ.

    Viêm hạch lan tỏa dọc bên cổ thường do chứng nhiễm khuẩn răng khôn hàm dưới hay viêm họng gây ra. Biểu hiện ban đầu là nổi một hay vài hạch nhỏ bên cổ, giới hạn rõ, di động; sau đó là sưng nề, cứng dọc cơ ức đòn chũm, giới hạn không rõ, ấn vùng sưng rất đau. Cổ vẹo về bên bệnh, đau khi cử động cổ, nuốt, nói khó. Bệnh nhân sốt cao, mệt mỏi, vật vã.

    Chứng viêm hạch mủ bắt đầu bằng một cục u, sau đó sưng, có thể có mủ, giữa vùng sưng có thể ấn lõm. Trong phần mềm của má sờ thấy một dải cứng đi đến nơi gây thương tổn.

    Nguyên nhân gây viêm hạch mang tai là nhiễm khuẩn răng miệng hoặc viêm tai, da, nhiễm virus. Hạch cứng, di động, sau đó viêm quanh hạch.

    Chứng viêm hạch trong mang tai (giả viêm tuyến mang tai) có biểu hiện: sưng vùng tuyến mang tai, đau tự phát và khi sờ thấy giới hạn không rõ ràng, nước bọt tiết bình thường. Ở giai đoạn làm mủ, mủ lan tỏa ra cả vùng tuyến mang tai làm thành áp xe vùng mang tai.

    Viêm hạch cổ, mặt mạn tính thường xảy ra sau những đợt viêm hạch tái phát nhiều lần nhưng cũng có trường hợp tiến triển mạn tính ngay từ đầu (hạch lao, giang mai, ung thư). Biểu hiện: hạch nổi to, di động, chắc, da bình thường, không đau, nhiều tổ chức xơ. Hạch tồn tại nhiều năm hoặc có những lúc viêm cấp, sau đó lại khỏi.

    Về điều trị, cần chống viêm toàn thân và tại chỗ, nâng cao thể trạng đối với trường hợp viêm hạch cấp. Nếu có mủ, phải rạch dẫn lưu mủ phối hợp với kháng sinh.

    Tuy nhiên muốn chẩn đoán chính xác hạch viêm hay do các nguyên nhân khác cần dựa vào siêu âm chọc hạch và sinh thiết hạch. Bạn cần đi khám để được chẩn đoán chính xác nguyên nhân và được chỉ đinh điều trị.

    Chúc bạn mau khỏi!
    Bs.Thuocbietduoc
    (Lưu ý: Chữa bệnh theo chỉ định của Bác sĩ)

  11. Những thành viên đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết này:

    Hon5thang (21-10-2013)

  12. #7
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Hạch sưng to báo hiệu bệnh gì?

    Danh từ "hạch" hầu hết mọi người không lạ lẫm gì. Bản chất của hạch là một tổ chức lympho nằm rải rác nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể, có loại ở trong các tổ chức sâu như hạch trung thất, có loại hạch nằm dưới da như hạch hai bên cơ ức đòn chũm, hạch thượng đòn, hạch góc hàm, hạch bẹn... Hầu hết hạch sưng to là do cơ thể đang mắc một bệnh nào đó có thể nguy hiểm hoặc không.

    Tính chất của hạch: Hạch là một tổ chức liên võng nội mô, sản sinh ra các dòng bạch cầu và đồng thời cũng sinh ra dòng kháng thể để chống lại các tác nhân lạ. Khi có tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể thì hạch phát triển to ra (sưng, đau), tuy vậy cũng có những trường hợp hạch sưng to nhưng không gây đau. Các vị trí hạch sưng to thường gần gũi với vị trí tổn thương hoặc trên đường đi của bạch mạch. Hạch sưng to có thể đứng riêng rẽ hoặc dính lại với nhau, dính vào da, dính vào tổ chức lân cận; hạch sưng to có thể di động hoặc không; có thể rắn hoặc mềm...Một số vị trí hạch sưng to khi bị bệnh
    - Hạch to ở vùng cổ, thượng đòn: Ở vùng cổ và vùng trên xương đòn có nhiều loại bệnh mà có sự kích thích làm cho hạch sưng lên như:
    Lao hạch: Hạch trong lao hạch thường nhỏ nhưng nhiều, xuất hiện từ từ, hạch thường không đau (người bệnh không cảm nhận thấy hoặc thầy thuốc sờ nắn nhưng người bệnh không thấy đau). Các hạch lao thường xếp thành chuỗi dọc theo hai bên cơ ức đòn chũm. Mật độ của các hạch cũng rất khác nhau, có cái mềm có cái rắn chắc. Nếu theo dõi, quan sát thường xuyên thì thấy lúc đầu các hạch di động dễ dàng nhưng do viêm nhiễm lâu ngày nên dần dần các hạch dính lại với nhau khó di động. Một điểm nổi bật là hạch lao rất dễ bị rò chảy ra một chất giống bã đậu. Khi hạch rò, chảy ra chất bã đậu thì bờ của vết rò nham nhở (có thể nhìn bằng mắt thường hoặc bằng kính lúp). Khi hạch rò chảy ra hết chất bã đậu thì có thể lành nhưng thường để lại sẹo nhăn nhúm dọc hai bên cơ ức đòn chũm mà người ta thường gọi là chuỗi "tràng nhạc". Liên quan đến nổi hạch, người bệnh thường có sốt về chiều, ăn kém, gầy sút nhanh chóng, hay ra mồ hôi lúc ngủ.
    Bệnh Hodgkin: Trong bệnh Hodgkin, người ta thường thấy hạch nổi ở hố thượng đòn bên trái lúc mới bị bệnh, dần dần cả hai hố thượng đòn đều có hạch nổi. Kèm theo hạch ở hố thượng đòn hạch nách và hạch ở trung thất cũng xuất hiện. Đặc tính của hạch trung thất thường không gây đau nên người bệnh không cảm nhận được, không hóa mủ nên không bị rò ra như trong hạch lao. Người bệnh cũng có sốt. Tính chất của sốt trong bệnh Hodgkin là sốt từng đợt và mỗi một lần sốt như vậy hạch cũ cũng to dần lên và xuất hiện thêm các hạch mới. Kèm theo còn có một số dấu hiệu đặc trưng khác như lách sưng to, rắn (có thể sờ nắn thấy hoặc siêu âm sẽ cho kết quả về kích thước của lách to ra so với lách bình thường).



    Vị trí giải phẫu các hạch vùng cổ.
    Hạch vùng bẹn sưng, đauVùng bẹn hạch thường sưng to, đau có thể do một số bệnh nhiễm khuẩn thuộc bộ phận sinh dục - tiết niệu như bệnh do vi khuẩn họ Chlamidia, bệnh sốt viêm hạch hoa liễu, bệnh giang mai do vi khuẩn giang mai gây ra. Bệnh giang mai thường có ba thời kỳ nhưng thời kỳ đầu (giang mai I) có vết loét ở bộ phận sinh dục ngoài. Vết loét này không đau, không ngứa, không hóa mủ và đặc biệt là tự khỏi (tự khỏi vết loét chứ không phải tự khỏi bệnh giang mai) không cần can thiệp gì nhưng bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn 2 (giang mai II) nguy hiểm hơn. Hạch vùng bẹn trong các loại bệnh này thường sưng to, đau, không hóa mủ, rắn, di động dễ dàng. Ngoài ra, nếu người bệnh bị tổn thương nhiễm khuẩn (vết xây xước, áp-xe, mụn nhọt...) ở vùng chi dưới, vùng quanh hố chậu thì hạch bẹn cũng sưng to và đau.
    Nổi hạch do viêm nhiễm: Một số bệnh nhiễm khuẩn cấp tính như viêm amidan, sang chấn phần mềm nhiễm khuẩn và xuất hiện gần vùng tổn thương. Kèm theo hạch sưng to là sốt nhưng khi điều trị hết hiện tượng nhiễm khuẩn thì hạch cũng trở về trạng thái bình thường như ban đầu.
    Một số hạch đặc biệt như ung thư hạch: Hạch sưng to ở nhiều vị trí trên cơ thể như hạch thượng đòn, hạch nách, hạch mạc treo, hạch trung thất... Hạch phát triển nhanh và dính lại với nhau; ấn vào đau, mật độ rắn, rất khó di động (vì chúng dính lại với nhau và dính vào tổ chức lân cận). Một số bệnh về máu cũng có hạch to như bệnh bạch cầu cấp, hạch thường to, mềm, di động xuất hiện nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể mà bình thường vẫn có hạch như hố thượng đòn, nách, bẹn, trung thất, mạc treo. Kèm theo hạch to là sốt cao, lách to nhanh, xuất huyết. Trong bệnh bạch cầu mạn tính thể lympho thì nhiều hạch nhưng bé, phát triển nhanh, lâu dần (vài ba tháng) hạch to ra, mềm và di động được. Ngoài ra, hạch có thể bị sưng to trong một số bệnh về máu, bệnh truyền nhiễm khác.
    Khi thấy hạch sưng to, đau nên làm gì?
    Hạch sưng to đau hoặc không, có nhiều nguyên nhân như đã nói phần trên. Hạch sưng to có thể nguy hiểm hoặc không, vì vậy khi thấy có hiện tượng bất thường trong cơ thể và kèm theo hạch sưng to, đau (hoặc không) cần phải hết sức bình tĩnh không nên lo lắng quá và nên đi khám bác sĩ ngay, nhất là hạch to kèm theo sốt hoặc sốt nhẹ về chiều hoặc sốt từng đợt hoặc thay đổi bất thường... Không nên tự mua thuốc để điều trị sẽ để lại nhiều bất cập khó lường trước. Không nên xét nghiệm hạch ở cơ sở dịch vụ y tế thông thường vì không đủ trang thiết bị y tế xét nghiệm dễ bị nhầm gây hoang mang có khi không đúng với bệnh cảnh của nó.
    PGS.TS.BS. Bùi Khắc Hậu

  13. Những thành viên đã cảm ơn songchungvoi_HIV cho bài viết này:

    Hon5thang (21-10-2013)

  14. #8
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Hạch bạch huyết

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


    Hạch bạch huyết hay hạch lympho là một trong vô số các cấu trúc trơn, hình bầu dục dẹp, rải rác dọc theo các mạch bạch huyết, là một phần của hệ bạch huyết. Các hạch bạch huyết có mặt ở khắp cơ thể, tập trung nhiều ở một số vùng như cổ, nách, bẹn. Hạch bạch huyết đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của hệ miễn dịch. Chúng chứa các tế bào bạch huyết và có chức năng làm bộ lọc hoặc bẫy giữ lại các phần tử ngoại lai, có thể bị viêm và sưng khi làm nhiệm vụ này.
    Các hạch bạch huyết cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh. Chúng nóng hoặc sưng lên trong những tình trạng khác nhau, từ nhẹ như viêm họng đến nguy hiểm như ung thư. Ở bệnh nhân ung thư, tình trạng của hạch bạch huyết đáng chú ý đến mức nó được dùng để xác định ung thư đang ở giai đoạn nào.



  15. #9
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Ung thư hạch bạch huyết

    Tổng quan

    Ung thư hạch bạch huyết là gì?

    Một dạng đặc biệt của bạch cầu, gọi là tế bào lympho, có vai trò quan trọng trong việc đề kháng của cơ thể chống lại bệnh tật. Những tế bào này tiếp xúc với nhiều chất khác nhau trong cơ thể trong khi xây dựng hệ miễn dịch. Các tế bào này tập trung để thanh lọc ở những khu vực nhất định gọi là hạch bạch huyết. Các hạch bạch huyết được tìm thấy ở khắp nơi trong cơ thể, đặc biệt là ở cổ, nách, háng, trên tim, xung quanh các mạch máu lớn trong bụng. Tế bào lympho cũng có thể nhóm lại với nhau trong lá lách, amidan và tuyến ức. Lymphoma là một loại ung thư phát triển từ tế bào lympho trong các khu vực này.
    Ung thư hạch bạch huyết phổ biến ra sao?

    Ung thư hạch bạch huyết là bệnh ung thư phổ biến thứ 8 ở nam và thứ 9 ở nữ tại Singapore theo đăng ký ung thư Singapore 2005-2009. Có khoảng 368 trường hợp được báo cáo hàng năm từ 2005-2009. Đây là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở trẻ em và thanh niên. Nó ảnh hưởng đến đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Hầu hết các bệnh nhân trưởng thành phát triển ung thư hạch bạch huyết sau 50 tuổi.

    Rủi ro và nguyên nhân


    Không có nguyên nhân cụ thể nhưng ung thư hạch bạch huyết có liên kết chặt chẽ với các bệnh suy giảm hệ miễn dịch bất thường do bẩm sinh hoặc do virus như virus AIDS.

    Triệu chứng


    Triệu chứng và dấu hiệu của ung thư hạch bạch huyết

    Ung thư hạch bạch huyết thường xuất hiện dưới dạng một khối u không đau dai dẳng hoặc ngày càng tăng kích thước. Nên khám bác sĩ nếu bị sưng dù không đau ở cổ, nách, háng có đi kèm hoặc không các hiện tượng như sốt dai dặng, ra mồ hôi nhiều hoặc giảm cân không lý do.

    Chẩn đoán


    Xét nghiệm chẩn đoán

    U lành tính cũng có thể gây sưng, để chẩn đoán có phải là ung thư hạch bạch huyết không cần phải tiến hành sinh thiết (cắt lấy mẫu mô) vùng bị sưng và gửi đến bác sĩ bệnh học để kiểm tra (bác sĩ xem xét các mô dưới kính hiển vi).
    Một khi bệnh ung thư hạch bạch huyết được xác nhận, các xét nghiệm tiếp tục như chụp hình, sinh thiết tủy xương và xét nghiệm máu là cần thiết để xác định mức độ phát triển của bệnh. Các xét nghiệm chức năng tim cũng có thể được yêu cầu để xem bệnh nhân có đủ khoẻ để điều trị không.

    Các loại ung thư hạch bạch huyết
    Ung thư hạch bạch huyết được chia thành bệnh Hodgkin và ung thư hạch bạch huyết không Hodgkin, dựa trên tính chất dưới kính hiển vi. Có rất nhiều loại ung thư hạch bạch huyết không Hodgkin. Kích thước và hình dạng của các tế bào ung thư và cách sắp xếp của chúng trong hạch bạch huyết quyết định loại ung thư hạch bạch huyết không Hodgkin. Ung thư hạch bạch huyết không Hodgkin tiếp tục được chia thành dạng xâm lấn (mức độ cao) hoặc phát triển chậm (mức độ thấp). Ung thư hạch bạch huyết Hodgkin được xác nhận khi có sự hiện diện của các tế bào ung thư đặc biệt.

    Lựa chọn điều trị


    Điều trị ung thư hạch bạch huyết

    Điều trị ung thư hạch bạch huyết có thể phải dùng hóa trị. Thuốc hóa trị có thể được tiêm vào tĩnh mạch tay hoặc là dạng viên uống. Mỗi đợt điều trị được tiến hành cách khoảng theo quy định để tiêu diệt tế bào ung thư mà vẫn cho phép cơ thể phục hồi. Các loại thuốc này lưu thông khắp cơ thể để tấn công các tế bào ung thư ngay cả khi chúng đã lây lan rộng.
    Xạ trị là phương pháp điều trị cục bộ bằng cách sử dụng các tia năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư hạch bạch huyết ở bất cứ nơi nào bức xạ chiếu vào. Khu vực được chiếu xạ có thể chỉ là các hạch bạch huyết hoặc cơ quan bị ảnh hưởng hoặc trong một số trường hợp, bao phủ cả một khu vực lớn bao gồm các hạch bạch huyết ở cổ, ngực và dưới hai nách. Phương pháp này có thể được sử dụng riêng hoặc kết hợp với hóa trị liệu. Liệu pháp sinh học sử dụng các sản phẩm tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể để chống lại ung thư. Nó có thể được sử dụng riêng hoặc kết hợp với hóa trị liệu.

    Nhiều phát triển mới trong lĩnh vực liệu pháp sinh học đang nổi lên. Kháng thể cho một loại ung thư hạch bạch huyết đã được phát triển và có thể được sử dụng trong trường hợp các phương pháp điều trị thông thường không còn hiệu lực. Điều trị kết hợp hóa trị liều cao đang được nghiên cứu trên một số bệnh nhân. Phương pháp này sử dụng hóa trị với liều cao hơn nhiều so với điều trị hóa trị bình thường để tiêu diệt các tế bào ung thư còn lại. Tuy nhiên, hoá chất liều cao cũng giết chết tủy xương khỏe mạnh có chức năng sản xuất ra bạch cầu (tế bào chống nhiễm trùng), hồng cầu (tế bào mang oxy), và tiểu cầu (tế bào ngăn ngừa chảy máu). Để giúp bệnh nhân chịu được hoá trị liều cao, tế bào gốc hoặc tủy xương từ bệnh nhân hoặc người hiến được thu thập trước đó. Sau khi bệnh nhân nhận hóa trị, các tế bào gốc hay tủy xương này được truyền lại cho bệnh nhân thông qua ống truyền nhỏ giọt vào tĩnh mạch tay.
    Giai đoạn ung thư hạch bạch huyết khi phát hiện và việc ung thư thuộc loại xâm lấn hay phát triển chậm sẽ quyết định phương pháp điều trị.
    Tiên lượng bệnh ung thư hạch bạch huyết

    Khám lâm sàng, chụp x-quang và báo cáo bệnh lý và tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân sẽ giúp đội ngũ y tế xác định mức phát triển của từng trường hợp ung thư hạch bạch huyết. Sau đó, quá trình điều trị thích hợp sẽ được đưa vào thực hiện. Các chiến lược điều trị sẽ khác nhau tùy từng người. Nếu được điều trị kịp thời và thích hợp, bệnh nhân ung thư hạch bạch huyết có triển vọng tốt.

    Các câu hỏi thường gặp


    Các câu hỏi thường gặp về ung thư hạch bạch huyết

    1. Ung thư hạch bạch huyết có truyền nhiễm không?

    Không có bằng chứng nào cho thấy ung thư hạch bạch huyết có thể lây lan cho người khác qua tiếp xúc gần vì nó không phải do virus hoặc vi khuẩn. Nó là tập hợp các tế bào của cơ thể đã trở thành dạng ung thư.
    2. Tại sao một số trường hợp ung thư hạch bạch huyết cần được điều trị ngay lập tức trong khi có một số trường hợp khác không cần điều trị?

    Ung thư hạch bạch huyết dạng phát triển nhanh, mức độ cao hay xâm lấn có thể tăng kích thước và lây lan đôi khi chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần, và có thể làm giảm sức khỏe của bệnh nhân rõ rệt. Những trường hợp này cần được điều trị trong vòng một thời gian ngắn để kiểm soát được bệnh. Dạng ung thư hạch bạch huyết phát triển chậm có thể kéo dài vài tháng hoặc nhiều năm để phát triển và thậm chí đôi khi có thể biến mất mà không cần điều trị. Nhưng chúng vẫn có thể gây ra các triệu chứng đáng lo ngại cho bệnh nhân về sau, đó là khi nên bắt đầu điều trị.

  16. #10
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Nổi hạch-sưng hạch bạch huyết


    Hạch bạch huyết (được gọi lầm là tuyến bạch huyết) là một phần của hệ bạch huyết thuộc hệ miễn dịch của cơ thể. Nổi hạch (hạch bạch huyết sưng lớn lên) có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng.

    Bình thường, bên trong cơ thể chúng ta có một số nhóm hạch bạch huyết, chúng là những nốt mềm, nhỏ, có hình hạt đậu. Những hạch thường bị sưng hoặc phì đại nhất là những hạch nằm ở cổ, dưới cằm, nách và ở háng.

    * Hệ bạch huyết là một hệ thống bao gồm các hạch và những ống phân bố rộng khắp cơ thể. Chúng mang các dịch bạch huyết [là những dịch mô bao quanh các tế bào có chứa những tế bào máu (tế bào lympho), dịch từ các quai ruột (dịch dưỡng trấp), và một số ít các hồng cầu] quay ngược trở lại hệ tuần hoàn nhờ tĩnh mạch. Dịch bạch huyết mang tập hợp những chất gây nhiễm và những chất lạ đối với cơ thể (kháng nguyên).
    * Hạch bạch huyết là một cụm nhỏ các tế bào được bọc xung quanh bởi một bao và có các ống tuyến đi vào và đi ra khỏi chúng. Các tế bào trong hạch bạch huyết được gọi là các tế bào bạch huyết (tế bào lympho), chúng có chức năng tạo ra các kháng thể (là những hạt protein trói buộc các chất lạ lại bao gồm những hạt gây nhiễm trùng) và những đại thực bào sẽ tiêu hóa những mảnh vụn này. Chúng đóng vai trò các tế bào dọn dẹp của cơ thể.
    * Các hạch bạch huyết là những vị trí quan trọng khi những chất lạ và các tác nhân nhiễm trùng tương tác với các tế bào thuộc hệ miễn dịch. Cụm các hạch lympho lớn nhất của cơ thể là lách, ngoài những chức năng khác, lách còn giúp cơ thể chiến đấu chống nhiễm trùng và đáp ứng lại với các chất lạ đối với cơ thể.

    NGUYÊN NHÂN

    Có một số cơ chế có thể gây ra sự phì đại của các hạch bạch huyết (nổi hạch):

    * Nhiễm trùng: làm tăng số lượng các bạch cầu do chúng được nhân lên để đáp ứng với kích thích của các chất lạ (kháng nguyên).
    * Virus: phản ứng miễn dịch đối với nhiễm trùng toàn thể của cơ thể chẳng hạn như nhiễm virus có thể xảy ra cùng với cúm cũng như những nhiễm trùng nặng hơn, chẳng hạn như HIV.
    * Viêm: sự thâm nhiễm các tế bào viêm do nhiễm trùng hoặc quá trình viêm xảy ra trong vùng của các hạch bạch huyết.
    * Ung thư: thâm nhiễm các tế bào ác tính (sự di căn) vào các hạch từ những dòng bạch huyết xuất phát từ khu vực của một số loại ung thư.
    * Ung thư máu: sự nhân lên không kiểm soát được và ác tính của các tế bào lympho, chẳng hạn như trong bệnh lymphoma hay bệnh bạch cầu.

    TRIỆU CHỨNG

    * Triệu chứng tùy thuộc vào vị trí hạch và nguyên nhân gây phì đại hạch.
    * Bệnh nhân có thể có những triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp trên (chảy nước mũi, đau họng, sốt) và cảm thấy nổi một số hạch căng nhẹ ở dưới da xung quanh tai, dưới cằm, hoặc ở phần trên của cổ.
    * Đôi khi có thể có nhiễm trùng da, đỏ, hoặc đau họng, và bệnh nhân có thể cảm thấy hạch bạch huyết lân cận theo hướng về phía tim bị phì đại.
    * Sưng những hạch bạch huyết nằm sâu bên trong cơ thể có thể gây ra những hậu quả khác với những hạch bạch huyết nằm ngay dưới da. Tắc nghẽn dòng chảy của bạch huyết do bị sưng các hạch bạch huyết nằm sâu có thể gây ra sưng chân hoặc ho kéo dài, ngay cả khi bạn không cảm thấy được sự sưng lên của các hạch này.
    * Một số dạng nhiễm trùng (nhiễm trùng tăng bạch cầu đơn nhân, HIV, và nhiễm nấm hoặc ký sinh trùng) có thể gây sưng hạch bạch huyết trên khắp cơ thể.
    * Một số rối loạn miễn dịch, chẳng hạn như lupus hay viêm khớp dạng thấp, cũng có thể gây sưng hạch khắp cơ thể.
    * Trong một số trường hợp hiếm gặp, bệnh nhân có thể có một hạch hoặc một nhóm hạch lớn lên nhanh chóng và trở nên cứng và không thể đẩy di động được dễ dàng ở dưới da.

    KHI NÀO CẦN ĐẾN GẶP BÁC SĨ

    Nếu chỉ là những hạch viêm đơn thuần thì thường chúng không phải là mối quan tâm lớn, nhưng nếu bạn có những triệu chứng của những bệnh khác kèm theo phì đại hạch bạch huyết, bạn nên đi khám bệnh.

    Hãy đi khám nếu như:

    * Hạch sưng từ 2 tuần trở lên hoặc bạn có những triệu chứng như sụt cân, vã mồ hôi đêm, mệt mỏi, hoặc sốt kéo dài.
    * Hạch cứng, dính chặt vào da, hoặc phát triển nhanh chóng.
    * Bạn cảm thấy sưng gần xương đòn hoặc ở phần dưới của cổ.
    * Vùng da phía trên hạch chuyển màu đỏ và viêm và bạn nghi ngờ có nhiễm trùng.

    Chẩn đoán sưng hạch bạch huyết hiếm khi cần phải cấp cứu. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ, chẳng hạn như nhiễm trùng da tiến triển cần phải điều trị, hạch bạch huyết nhiễm trùng nặng cần phải được dẫn lưu, hoặc đau đớn nặng nề.

    KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

    * Bác sĩ sẽ hỏi bệnh nhân về những triệu chứng đi kèm theo và sau đó sẽ tiến hành khám.
    * Tùy thuộc vào mức độ lan tràn của bệnh, bác sĩ có thể cho xét nghiệm công thức máu, chụp X quang và CT scan những vùng bị ảnh hưởng.
    * Có thể cần phải sinh thiết hạch bị sưng. Mẫu mô lấy đi sẽ được gửi cho các nhà giải phẫu bệnh nghiên cứu dưới kính hiển vi để xác định nguyên nhân gây sưng hạch.

    ĐIỀU TRỊ

    Tại nhà

    Nếu bệnh nhân có những triệu chứng cảm lạnh hoặc những nhiễm trùng nhẹ khác có thể cần hoặc không cần uống kháng sinh và nổi hạch trong vòng khoảng 2 tuần rồi sau đó trở về bình thường thì không cần phải điều trị đặc hiệu.

    * Nếu hạch nhỏ (nhỏ hơn 2cm), nằm ở háng, hoặc dưới cằm ở bệnh nhân trưởng thành trẻ thì được xem là bình thường.
    * Trẻ em thường có hệ bạch huyết hoạt động hơn người lớn nên có thể có cảm giác các hạch của chúng bị phì đại.

    Tại bệnh viện

    Nếu một hạch bạch huyết lớn nhanh trong vòng từ 1 đến 2 ngày thì nó thường có nguyên nhân và cách điều trị khác với những hạch bạch huyết bị sưng trong vòng vài tháng. Hãy trình bày mối lo lắng của mình với bác sĩ khi đi khám vì điều này có thể giúp bác sĩ thiết lập được chẩn đoán.

    * Cách điều trị chuẩn đối với những hạch bạch huyết bị phì đại có thể là dùng thuốc giảm đau và hạ sốt, chẳng hạn như ibuprofen và acetaminophen. Có thể đắp vải ấm để làm giảm sưng.
    * Nếu nguyên nhân gây sưng là nhiễm trùng, bác sĩ có thể kê toa cho bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh hoặc thuốc kháng virus.
    * Nếu có ổ áp xe, có thể cần phải được dẫn lưu bằng cách rạch ra và trám đầy bằng gạc.
    * Nếu hạch sưng do nguyên nhân ác tính, có thể cần phải phẫu thuật, xạ trị, hay hóa trị.
    * Nếu bệnh nhân bị rối loạn miễn dịch, có thể sẽ được bác sĩ kê toa những loại thuốc phù hợp.

    TIÊN LƯỢNG

    Phần lớn những trường hợp nổi hạch đều tự khỏi mà không để lại di chứng gì.

    (Nguồn Y học NET )​


  17. #11
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Hạch bạch huyết bị sưng ở cổ - nguyên nhân và cách chữa trị


    (AloBacsi) - Có hàng trăm hạch bạch huyết ở cổ và được chia thành nhiều loại. Hạch bạch huyết bị sưng thuộc về bề mặt và nằm trực tiếp ngay dưới da.

    Nguyên nhân
    Viêm hạch bạch huyết là dạng viêm thường gây ra do nhiễm vi khuẩn. Các hạch bạch huyết bị sưng trên cổ của bạn có thể gây ra một chút đau đớn khi chạm vào, hoặc khi chúng đang hoạt động để loại bỏ nhiễm trùng.
    Nếu mạch bạch huyết bị nhiễm có thể thấy vệt màu đỏ đi từ chỗ bị thương đến các hạch bạch huyết trên cổ. Để hiểu lý do tại sao các hạch bạch huyết trên cổ bị sưng, nên hiểu được nguyên lý làm việc bên trong của hệ bạch huyết.
    Các hạch bạch huyết thường bé, hình hạt đậu và ở nhiều vị trí trên cơ thể. Những hạch này nhận các hướng của hệ bạch huyết nơi các lưu chất loại bỏ virus, vi khuẩn và tạp chất khác.
    Nếu cần thiết, hạch bạch huyết có thể là những chiếc máy lọc có thể “bắt giữ” tạp chất lạ xâm nhập vào cơ thể của bạn. Các sinh vật lạ sẽ bị vô hiệu hóa bởi các bạch cầu hoặc các tế bào máu trắng.
    Có khoảng 500 hạch bạch huyết khắp cơ thể và bạn có thể cảm thấy chúng trên nách, háng của bạn, sau tai và cổ.
    Các hạch bạch huyết trên cổ xảy ra trong các nhóm và khi cơ thể bị nhiễm trùng. Các hạch bạch huyết này có thể bị sưng, đỏ và cảm thấy đau khi chạm vào. Vị trí của bạch huyết bị sưng là đầu mối hiệu quả để thông báo bạn đang gặp vấn đề sức khỏe ở chỗ nào đó. Ví dụ, nếu các hạch bạch huyết khắp cơ thể của bạn bị sưng, trên cơ thể bạn sẽ có vấn đề như như nhiễm trùng, các bệnh tự miễn, phản ứng thuốc và bệnh bạch cầu.
    Khi có các hạch bạch huyết bị sưng ở cổ, rát có thể bạn bị nhiễm trùng ở đầu, cổ hay miệng bao gồm viêm họng và cảm lạnh.
    Những bé đang mọc răng hoặc nhiễm trùng tai cũng có thể có các hạch bạch huyết bị sưng ở cổ. Các bệnh khác như sốt toxoplasmosis và bệnh lao cũng được chỉ định nhờ các hạch bạch huyết bị sưng ở cổ.
    Có nên thăm khám bác sĩ?
    Bởi vì các hạch bạch huyết bị sưng trên cổ có thể là do nhiễm trùng nhưng không phải lúc nào nó cũng chỉ ra được các bệnh nghiêm trọng như ung thư hoặc các trường hợp tồi tệ khác mà bạn có thể gặp.
    Gần đây bạn có bị đau cổ họng hay đau tai không? Nếu có, các hạch gần khu vực bị nhiễm bệnh có thể sưng lên. Đó là một dấu hiệu cho thấy cơ thể của bạn đang cố gắng chống chọi với các sinh vật hay vi khuẩn có hại xâm nhập vào cơ thể.
    Do vậy, bạn có thể tìm đến bác sỹ để thăm khám và có phương pháp chữa trị hợp lý. Tuy nhiên bạn không cần phải lo lắng quá về các tuyến bạch huyết bị sưng.
    Đôi khi các hạch bạch huyết của bạn sưng lên rất nhanh và gây đau đớn. Các hạch có thể bị sưng trong hai ngày hoặc thậm chí hai tuần. Mặt khác, nếu có hơi nóng và sưng đỏ ở chỗ bị sưng thì đây là dấu hiệu cho thấy bạn nên gặp bác sĩ. Bạn không cần phải đi khám bác sĩ nếu có các hạch bạch huyết bị sưng trên cổ đi kèm với cảm lạnh nhẹ, đợi tầm 3 hoặc 4 ngày xem biểu hiện khác như thế nào.
    Trong một số trường hợp rất hiếm, các hạch bị sưng là dấu hiệu của ung thư hạch, ung thư máu có ảnh hưởng đến tế bào lympho, một loại tế bào máu trắng. Ngay lập tức hãy tìm gặp bác sĩ nếu các hạch bị sưng ở cổ không biến mất trong hơn 3 tuần và nếu đi kèm với các triệu chứng như:
    - Ốm yếu hoặc thiếu năng lượng
    - Giảm cân không rõ nguyên nhân
    - Sốt
    - Ớn lạnh
    - Đổ mồ hôi đêm
    Điều trị
    Thuốc giảm đau, chẳng hạn như acetaminophen và ibuprofen là phương pháp điều trị chuẩn cho các hạch bạch huyết bị sưng lên. Nếu bạn bị rối loạn miễn dịch, thuốc kê đơn là cần thiết để giảm kích thước của hạch bị sưng.
    Acetaminophen
    Trong một số trường hợp hiếm gặp, áp xe có thể phát triển trên các hạch và điều này có nghĩa các chất bị nhiễm bệnh phải được loại bỏ thông qua một phẫu thuật nhỏ.
    Điều trị tự nhiên và toàn diện nên tập trung hơn vào những nguyên nhân cơ bản của các hạch bạch huyết bị sưng. Hiện có nhiều liệu pháp thiên nhiên và thảo dược rất dễ dàng và không gây bất kỳ phản ứng phụ nào.
    Bạn có thể sử dụng Hypoxrs rooperii để tăng cường hệ thống miễn dịch, trong khi cây tầm gửi (Viscum album) có thể điều tiết lại các tế bào bị phá hủy và giảm viêm nhiễm.
    Các loại thảo mộc khác như cam thảo (Glycyrrhiza glabra), chàm (Baptisia tinctoria) và Echinacea (Echinacea spp.) cũng nên được sử dụng nếu dạng bệnh cấp tính và cần ngay tức thì để tăng cường hệ thống miễn dịch.
    Cam thảo
    Khi mua các sản phẩm thảo dược từ các nhà thuốc, bạn chỉ nên chọn những loại được sản xuất bởi các công ty có uy tín. Chất lượng thành phần và liều lượng là hai yếu tố quan trọng nên xem xét khi lựa chọn thuốc thảo dược.
    Nếu khu vực bị sưng là khu vực nhạy cảm, bạn có thể chườm nóng và lạnh cùng một lúc. Nước nóng và lạnh mỗi thứ để một bát và dùng khăn mặt để chườm lên vùng bị sưng. Đặt chiếc khăn ấm (không chảy ướt) trên các hạch bị sưng trong 10 phút và sau đó thay thế bằng những chiếc khăn lạnh.
    Trong hàng nghìn năm, người dân đã sử dụng mật ong để chữa bệnh. Bạn cũng có thể sử dụng mật ong để giảm sưng và đau các hạch bạch huyết. Hòa tan một muỗng cà phê mật ong vào một cốc nước ấm hoặc nước trà, sau một vài ngày, bạn sẽ thấy cải thiện rõ rệt trên các hạch bạch huyết bị sưng.
    Quách Vinh
    Theo Healthguidance

  18. #12
    Thành viên năng động nhiệt tình.
    Ngày tham gia
    18-07-2009
    Giới tính
    Nam
    Đến từ
    Tp.HCM
    Bài viết
    47,922
    Cảm ơn
    2,578
    Được cảm ơn: 11,971 lần
    Sưng hạch huyết có phải bị HIV


    Em bị sưng hạch huyết và nổi hạch dưới hàm, hai nách, kèm theo đó là cảm giác khó chịu. Xin cho hỏi có phải đó là triệu chứng của HIV?
    Bên cạnh đó, đôi khi em có cảm giác rất nóng và đau đầu. Thỉnh thoảng trên da có nhiều đốm ngứa ở các mạch máu, nhiều chấm đỏ nổi khắp người gây ngứa. Các triệu chứng này xuất hiện rồi biến mất sau mấy ngày. Xin cho em hỏi có phải đó là triệu chứng của HIV không? - ().

    Ảnh minh họa: wp.
    Trả lời:
    Chào bạn,
    Trước hết, có một số điểm tôi chưa rõ trong mô tả của bạn về triệu chứng mà bạn đang có, đặc biệt là yếu tố thời gian. Bên cạnh đó, khi nhắc đến khả năng nhiễm HIV, yếu tố hành vi nguy cơ đã hoặc đang có là yếu tố có tính chỉ điểm quan trọng nhất.

    Tôi xin lấy một ví dụ. Nếu trên một người có hành vi nguy cơ rõ ràng, chẳng hạn là người tiêm chích ma tuý, thì biểu hiện nổi hạch gợi ý nhiều đến HIV, thậm chí có thể gợi ý bệnh cảnh lao hạch, một dấu chứng muộn của giai đoạn AIDS. Ngược lại, nếu một người hoàn toàn không có hành vi nguy cơ gì rõ ràng, hạch bạch huyết sưng đau lại gợi ý cho một nhiễm trùng cấp tình hay mạn tính nào đó mà bất kỳ ai cũng có thể mắc, và khi đó HIV là một chẩn đoán "cuối bảng".

    Tôi xin chia sẻ thêm với bạn rằng, trong thực hành lâm sàng của y bác sĩ, một triệu chứng hay biểu hiện bất thường có thể xuất hiện trong rất nhiều bệnh, với tỷ lệ khác nhau, tính chất khác nhau... Và "hạch to" cũng vậy. Do đó quan niệm quy kết cho "hạch to là HIV" thì không chính xác

    Về biệu hiện ngứa ở da, theo nhận định của tôi có thể là biểu hiện dị ứng với tác nhân nào đó. Để xác định, bạn cần đến khám chuyên khoa da liễu khi có biểu hiện đó.

    Bạn cũng nên xem xét đến việc đi xét nghiệm HIV thay vì lo lắng "mơ hồ". Đặc biệt nếu bạn có tiền sử có hành vi nguy cơ.

    Thân ái!

    Bác sĩ Nguyễn Tấn Thủ
    Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Sức khoẻ Nam giới

    Lần sửa cuối bởi songchungvoi_HIV, ngày 08-11-2013 lúc 16:10.

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •